The Articles about NCT

Cuối cùng Sự thật và công lý đã được trả lại cho nhà thơ Nguyễn Chí Thiện

 


Bài viết này không phải để “vạch lá tìm sâu” hay “ bới bèo ra bọt”. Bài viết cũng không có mục đích “đánh người ngã ngựa” mà chỉ là theo yêu cầu của bà Hoàng Dược Thảo (HDT), sau ngày Saigon Nhỏ bị buộc phải ngưng “Nghi Án Văn Học”. Bà muốn mọi người xử dụng tất cả những tài liệu đăng trên SGN liên quan đến nhà thơ Nguyễn Chí Thiện để cùng lên tiếng. Theo bà “Đây không phải là công việc riêng của SGN mà là công việc chung, là bổn phận của mọi người Việt yêu nước không chấp nhận chế độ CS là phải tìm ra ai là tác giả tập thơ Vô Đề”.Continue Reading »

                Ai Xoá Bỏ Ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư ?

Cuối cùng thì ngày 22 tháng Tư năm nay, Đạo luật S- 219 “Journey To Freedom Day” – Hành Trình Tìm Tự Do- của Thượng Nghị Sĩ Ngô Thanh Hải đệ trình đã được thông qua tại lưỡng viện Quốc Hội Canada. Từ đây Canada sẽ có một ngày lễ quốc tế tưởng niệm lại tháng Tư Đen, người miền Nam đã phải rời bỏ quê hương ra đi tìm tự do trên những con thuyền mong manh với tâm niệm thà chết  trên biển Đông còn hơn là phải sống trong một đất nước cai trị bởi loại người hung ác, độc tài, đầy dẫy dối trá hận thù!

Đạo luật này đã tạo ra phản ứng chống đối dữ dội từ phía nhà cầm quyền CSVN. Thật không gì mất mặt cho bằng bấy lâu nay tuyên truyền là mình có công đánh đuổi ngoại xâm thống nhất đất nước, xây dựng một nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tự do hạnh phúc ấm no giàu mạnh, tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội không  cần kinh qua tư bản, người dân sẽ chỉ làm theo lao động mà hướng theo nhu cầu vv và vv…thế mà dân chúng lại cứ ùn ùn bỏ nước ra đi, thậm chí còn ví von “nếu biết đi thì cái cột đèn nó cũng bỏ chạy”! CS gọi những người này là thành phần bám theo đế quốc, thuộc loại “ma cô đĩ điếm”. Nay chính thành phần này lại có thể thay đổi suy nghĩ của người dân bản xứ, đem tài sức ra giúp cho đất nước đã mở rộng bàn tay cưu mang mình để rồi được đền bù xứng đáng bằng Đạo Luật S-219 “Journey To Freedom Day”- Hành Trình Tìm Tự Do, bảo sao CSVN, từ Thủ Tướng đến Bộ Trưởng Ngoại Giao không tức lồng lộn lên cho được!

Chiến tranh nói là kết thúc từ năm 1975, nhưng nay nó lại tiếp diễn tại hải ngoại bằng một hình thức mới. Đó là cuộc chiến giành chính nghĩa. Muốn cho CSVN có chính nghĩa, phản chiến Mỹ (Mỹ Cộng) bằng mọi cách phải thực thi hai điều: đó là xoá bỏ vai trò của người lính VNCH và nâng cao uy tín Hồ Chí Minh, đề cao ông ta là người quốc gia dân tộc, đánh đuổi ngoại xâm. Họ còn cho rằng Mỹ đã đánh mất một cơ hội khi Hồ Chí Minh nhờ Mỹ giúp chống Pháp, Mỹ không giúp nên ông ta mới theo CS (?). Sách dạy về chiến tranh VN taị các trường học chỉ toàn hình ảnh lính Mỹ và lính Việt cộng, mục đích cho thấy Mỹ xâm lăng, CSVN chống ngoại xâm là có chính nghĩa. Thử hỏi được giảng dạy một chiều như thế tuối trẻ VN sinh ra và lớn lên tại hải ngoại nào biểt gì về nỗi đau uất nghẹn của ngày Quốc Hận để tưởng niệm, để gìn giữ bảo tồn một khi cha ông các em, là những người sống trong chiến tranh hiểu rõ bộ mặt thật của CS thì lại lần lượt vĩnh viễn ra đi?

CS chống đối Đạo Luật S-219 đã đành, nhưng một số người Việt hải ngoại mang căn cước tị nạn sao lại cũng chống đối? Bảo rằng không muốn thay thế “Ngày Quốc Hận” bằng bất cứ một danh xưng nào khác vì tên gọi này đã đi vào lịch sử, nhắc nhở người Việt đó là ngày đau thương tang tóc. Điều này đúng nhưng chỉ đúng với nội bộ người Việt chúng ta, còn thế giới bên ngoài hầu như bị tuyên truyền nhìn sai lầm về cuộc chiến, cho chúng ta không có chính nghĩa mất nước nên hận thù. “Hành Trình Tìm Tự Do” có thể phơi bàycho thế giới thấy được tội ác CSVN, cho là có tự do dân chủ hoà bình mà sao người dân đã phải bỏ nhà cửa ruộng vườn bồng bế nhau chen chúc trên những con thuyền mỏng manh vượt đại dương mà cái chểt chiếm đến 99% ? Đã tranh đấu thì cần có sự hy sinh nhân nhượng, bỏ qua bất đồng , xích lại gần nhau, đem chính nghĩa về cho cuộc chiến tại sao không làm mà lại cứ chống đối ? như thế chẳng khác nào tiếp tay CSVN dập tắc Đạo Luật S219 !

Thành thật mà nói những cuộc biểu tình rầm rộ, những bài diễn văn hùng hồn lên án CSVN vào ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư vẫn chưa đủ để người Mỹ có một cái nhìn đứng đắn về cuộc chiến VN. Cựu TT Bill Clinton trước kia trốn quân dịch, cho cuộc chiến VN là dơ bẩn. Bộ Trưởng Ngoại Giao hiện nay, John Kerry, người đã từng tổ chức biểu tình chống chiến tranh quăng trả những huy chương cho là tội lỗi. Tệ hại nhất là tháng Tư năm 1971, John Kerry đã ra điều trần trước Quốc Hội, và để đánh động lương tâm người dân Mỹ, ông đã tố cáo quân đội Mỹ qua VN không truy lùng địch mà chỉ đi cắt tai , xẻo thịt lột móng, giết hại đàn bà trẻ con. Liên tục tiếp theo đó với sự hỗ trợ mạnh mẽ của 6 vị Thượng Nghị Sĩ đảng Dân Chủ áp lực ra kỳ hạn cho chính quyền đương thời phải rút quân và từ từ rồi cuối cùng Quốc Hội đã biểu quyết cắt viện trợ cho Nam Việt Nam. Thế mà nay, Bill Clinton, người trốn quân dịch, vẫn được trở thành vị Tổng Tư Lệnh quân đội Hoa Kỳ, John Kerry vẫn được tín nhiệm bầu vào chức vụ dân cử và xém tí nữa trở thành TT Hoa Kỳ vào năm 2008. Tại sao? Chỉ vì người dân Mỹ vẫn coi chiến tranh VN không có chính nghĩa.

Năm 2013 Thượng Nghị Sĩ Dick Black tiểu bang Virginia, một quân nhân từng tham chiến tại VN, đã đệ trình Nghị Quyết SJR 455 South Vietnamese  Recognition Day, công  nhận quân, dân, cán, chính và vinh danh Quân-lực VNCH trong cuộc chiến cho tự do dân-chủ ở Việt-nam, chỉ vì ông đã thấy rõ sự hi sinh cao cả của người lính VNCH mà người dân Mỹ đa số đã có cái nhìn sai lầm qua phim ảnh sách báo của phản chiến Mỹ. Tấm hình chụp người lính VNCH bám vào chiếc trực thăng đang bay lơ lững cùng chữ “Rabbit” ghi chú phía dưới của tờ New York Times đăng trong thời gian chiến tranh, chắc chắn sẽ không còn trong lòng họ nữa. Với quá trình làm việc lâu dài tại Quốc Hội, ông đâu phải đến với cộng đồng chúng ta vì lá phiếu. Thư ông viết thật là đầy tình người. Chúng ta may mắn có được một người bạn tốt, tận tình giúp chúng ta giải quyết vấn đề ngay tận gốc. Đó là làm thế nào cho con cháu chúng ta, thế hệ mai sau, biết được nguyên nhân cuộc chiến và lý do nào mà ngày hôm nay các em có mặt tại đây.

Nghị Quyết SJR- 455 cho thấy sự sai lầm của Quốc Hội Liêng Bang năm xưa. Người lính VNCH anh dũng chiến đấu nhưng không có súng đạn trong khi đối phương lại được khối CS quốc tế viện trợ dồi dào. Nghị Quyết được 139 phiếu thuận chỉ một phiếu chống, lấy lại danh dự cho VNCH thì đó chẳng phải là cái gai trong con mắt của nhà cầm quyền CSVN hay sao, thế mà một số người Việt tị nạn lại chống ?

Phải hiểu rằng Nghị Quyết này là của Quốc Hội Virginia. Người Mỹ họ chỉ biết ngày 30 tháng 4 và chọn ngày đó là hợp tình hợp lý. Ngày này trong khi chúng ta làm lễ tưởng niệm ngày đau thương của dân tộc, ghi nhớ sự hi sinh lớn lao của người lính VNCH, cầu nguyện cho họ và cho những nạn nhân đã bỏ mình trong các trại tù nơi rừng thiêng nước độc, nơi biển cả hãi hùng vì hai chữ Tự Do, thì bên QH Virginia, các vị dân cử đã cùng nhau lấy lại danh dự cho miền Nam Việt Nam, coi như là một lời xin lỗi. Thử hỏi có gì là không ổn? Thế mà các ông bà Chủ tịch cộng đồng thi nhau ký tên phản đối, không những thế còn cho là TNS Dick Black kiếm phiếu, là làm chuyện ruồi bu, là làm lợi cho Việt gian xoá bỏ Ngày Quốc Hận…

Mỹ là một đất nước tự do, quyền tự do tư tưởng được tôn trọng vì thế binh và chống là chuyện thường tình. Lấy thí dụ cuốn băng Paris By Night 40 chủ đề Mẹ có nội dung bôi bẩn người lính VNCH làm lợi cho CS, hiện nằm trong các thư viện  Muốn chống lại cuốn băng đó, chúng ta không thể nào đòi hỏi các thư viện lấy cuộn băng xuống mà chúng ta phải làm một cuốn khác trả lời những lập luận sai trái của Paris By Night. Cũng thế, vào năm 1984 đài truyền hình PBS chiếu một loạt phim có tên “Vietnam: A Television History” đã xuyên tạc lịch sử Việt Nam, không nhắc gì đến quá khứ CS của Hồ Chí Minh, mô tả ông ta được người dân VN coi như là một nhà ái quốc và mập mờ cho rằng tư tưởng HCM có ảnh hưởng đến tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng và kể cả học trò của ông ta cũng có mặt trong tổ chức này. Để phản bác lại, Accuracy in Media, Inc (AIM) đã làm cuốn phim “ The Real Story” trình bày sự thật về con người Hồ Chí Minh. Giới thiệu phim là tài tử nổi tiếng Charlton Heston. Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích xuất hiện trong phim này tường trình về những cuộc xuống đường rầm rộ chống PBS, khởi đầu từ New Orleans, đến Houston San Diego, Hoa Thịnh Đốn…mà trong đó có người Việt Nam, Mỹ, đàn ông, đàn bà thanh niên nam nữ tham dự. Cuộn băng này còn có cả ấn bản tiếng Việt rất có lợi cho công cuộc tranh đấu của chúng ta. Vậy thử hỏi quí vị chống đối đã xem chưa? Và nếu xem rồi có chịu khó tìm cơ hội phổ biến rộng rãi trong cộng đồng tị nạn vùng mình hay không?

Nếu Nghị Quyết SJR- 455 đồng loạt đươc thành lập tại Quốc Hội các tiểu bang Hoa Kỳ, thì ngoài việc đính chánh lại những sai lầm của sách báo phim ảnh phản chiến kể cả cuốn băng Paris By Night Mẹ 40, còn giúp cho Cờ Vàng của chúng ta được tung bay ngay tại Quốc Hội các tiểu bang vào ngày Quốc Hận, một điều mà Liêng Bang không thể nào nại lý do vì bang giao với CSVN để ngăn cản .

Ngày nay là thời buổi trao đổi kinh tế, CS cho người trà trộn khắp nơi tại hải ngoại thì đường hướng đấu tranh của chúng ta cũng nên thay đổi. Nếu cứ khư khư ôm chặt lấy chính nghĩa, không truyền đạt lại cho con cháu sau này thì lấy ai là người thay thế chúng ta duy trì tưởng niệm ngày Quốc Hận khi thế hệ chúng ta lần lượt ra đi?  Vậy xoá bỏ ngày Quốc Hận không phải là tác giả  Đạo Luật S 219  Journey To Freedom Day, cũng không phải tác giả Nghị Quyết SJR- 455 cũng  không phải là giáo sư Nguyễn Ngọc Bích và nhóm ủng hộ mà chính là quí vị chống đối, những người chỉ thấy trước mắt cái lợi bằng hòn sỏi mà bỏ qua cái hại như tảng đá đã và đang đè bẹp chính nghía của chiến tranh Việt Nam trong suốt bốn mươi năm qua !

Đã đến lúc chúng ta cần phải nhìn lại. Bốn mươi năm tuy chưa phải là dài nhưng cũng không phải là quá ngắn để chúng ta có thể  kiểm điểm lại những gì chúng ta làm từ khi bước chân đến bờ tự do. Những thành quả gặt hái được phần đông chỉ nằm trong phạm vi nội bộ của cộng đồng chưa đi sâu vào cộng đồng người bản xứ ngoại trừ việc chống cờ máu và hình Hồ trong vụ Trần Trường vào năm 1999  tại Nam Cali. Truyền thông Hoa Kỳ đổ dồn về Little Saigon lấy tin,  chứng kiến những cuộc xuống đường vĩ đại, hình ảnh loan đi khắp nơi trên thế giới, đó là nhờ lúc đó chúng ta biết đoàn kết tạo sức mạnh.

Kết quả của Đạo luật S 219  hôm nay không có nghĩa là “thắng” hay “thua”trong cộng đồng tị nạn mà là một cơ hội vĩnh viễn cho người Việt đứng chung nhau tưởng niệm lại con đường gian truân khổ ải, nhìn lại quá khứ đế hướng về tương lai, phải làm gì để giải toả mọi tuyên truyền mang về chính nghĩa cho cuộc chiến Việt Nam đồng thời để đòi lại quyền làm người mà CSVN đã tướt đoạt của người dân Việt từ bốn mươi năm qua.

Bắc Cali  Quốc Hận 2015

Nhàn SF

Hậu Duệ Việt Nam Cộng Hòa, Lữ Anh Thư, trong một cuộc phỏng vấn ngày 15- 1-2015 trên đài phát thanh Việt Nam Tự Do có đề cập đến Tâm Thư bà Đào Nương Hoàng Dược Thảo và coi đó như là lời nhắc nhở mọi người :  “Báo SGN đã đồng hành vi Cộng Đồng chống Cộng chống Việt gian t30 năm nay”. Continue Reading »

Nguyễn Chí ThiệnVà Báo Người Việt số 32

Lời mở đầu:

Khi tập thơ “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực” đến tay người Việt hải ngoại thì không ai biết được gì về tác giả, cho đến lúc một người tự nhận là Minh Thi, bạn cùng tù với tác giả, cho báo Người Việt biết rõ lai lịch của nhà thơ, ngay sau đó trên tuần báo Người Việt số 32 ngày 24- 11- 1980 có ba bài viết về nhà thơ Nguyễn Chí Thiện

1/ Nguyễn Chí Thiện, Tác giả Tập Thơ Tù Miền Bắc (Duy Sinh).

2/ Hai Buổi Nói Về Ngục Sĩ Với ông Minh Thi (Nguyễn Đức Quang )

3/ Tâm Sự Với Người Bạn Cùng Tù (Minh Thi)

Năm 2008, vào thời điểm tờ Saigon Nhỏ(SGN) nêu lên “Nghi Án Văn Học”, bản copy một phần tờ báo Người Việt số 32 được tung lên mạng, nội dung xoay quanh hai vấn đề : “Nguyễn Chí Thiện hoạt động trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm nên bị tù” và “Khi ra tù dùng tiền bạn bè gửi về giúp mở động điếm ở quán Bà Mau Hải Phòng, làm ăn khấm khá nên ngưng làm thơ chống Cộng”. SGN đã khai thác tài liệu này coi như là bằng chứng về sự dối trá của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đi đến kết luận “Nguyễn Chí Thiện không phải là tác giả của tập thơ Hoa Địa Ngục”

 

Bao Nguoi Viet #32 24-11-1980: NCT Mo Dong Diem Quan Ba Mau – Hai Ph

Lê Trần
Cám ơn Bưu điện từ Miền Bắc Cali gởi đến chúng tôi một số tài liệu về NCT
xin gởi lên đây bản tin báo Người Việt số 32 ngày 24 tháng 11, 1980
bản tin Nguyễn Chí Thiện mở động điếm Quán Bà Mậu , Hải Phòng.


Fri Nov 14, 2008 11:15 am

hatien <vanctnguyen@…>  

Trước sự việc này , chúng tôi , nhóm Thân Hữu Nguyễn Chí Thiện, buộc lòng phải đưa lên ba bài viết trên tờ Người Việt số 32 đồng thời tố cáo trước dư luận hành vi gian trá bỉ ổi của nhóm người trong đó có nhà báo Đào Nương Hoàng Dược Thảo, một người luôn vỗ ngực cho là mình chống cộng nhưng lại chuyên đâm sau lưng chiến sĩ. Xin mời bạn đọc tiếp tục theo dõi báo Người Việt số 32 dưới đây.

…………………………………….

Người Việt số 32 Ngày 24-11-80

Ba Bài Viết trên Báo Người Việt Số 32

Bài 1:(Trang 1 & 6)

Nguyễn Chí Thiện

Tác Giả Tập Thơ Tù Miền Bắc

Duy Sinh

…………….

………………………………………………………….

Bài 2: (trang 1, 3, 12 &10)

Hai Buổi Nói Về Ngục Sĩ

Với Ông Minh Thi

Nguyễn Đức Quang

………………………….

……………………………………………………………………..

Bài 3 (trang 1, 3 & 6)

Phóng Ảnh Bài Viết Của Ông Minh Thi

Những Giòng Tâm Sự Với Người Bạn Cùng Tù

…………………………

Những Giòng Tâm Sự Với Người Bạn Cùng Tù

Minh Thi

…………

…………………………………………………………………………………………………………..

Cả ba bài viết trên hoàn toàn không hề nói gì đến chuyện nhà thơ Nguyễn Chí Thiện nằm trong nhóm “Nhân Văn Giai Phẩm” và,“ mở động điếm quán Bà Mau cũng như không đề cập gì đến “những năm tháng bị bắt và ra tù lần đầu cũng như lần thứ hai ” của nhà thơ. Minh Thi là một nhân chứng sống, đã từng trải qua gần 12 năm tù cùng trại giam Phong Quang với Nguyễn Chí Thiện nên những gì Minh Thi biết chỉ nằm trong giai đoạn từ 1966 – 1978 , rõ ràng nhất là những bài thơ (trong tập thơ Hoa Địa Ngục) làm xong đọc lên cho các bạn tù cùng nghe góp ý. Điều này xác nhận Nguyễn Chí Thiện chính là tác giả của tập thơ Hoa Địa Ngục. Để phủ nhận sự kiện này, nhóm Vạn Thắng – Saigon Nhỏ đã phải đưa ra một tài liệu giả, nhưng họ khôn mà lại không ngoan. Nếu để ý đến phần đánh số trang trên đầu cùng của hai tài liệu, sẽ thấy có sự khác biệt . Năm 1980 Người Việt chỉ là Tuần báo, tin tức không nhiều nên số trang được đánh theo thứ tự 1, 2, 3…..12. Ngày nay Người Việt trở thành báo Ngày, thông tin phong phú nên báo được phân ra từng mục một theo mẫu tự A, B, C….Mỗi mục lại có A1, A2…B1, B2 …C1, C2…v..v.. Thế thì báo Người Việt của năm 1980 làm gì có “trang A4 …tiếp trang A1” như lối trình bày của mảnh báo đã được photoshop kia?

Kính thưa quí bạn đọc,

Năm 1980, khi tập thơ “Hoa Địa Ngục” đến tay người Việt hải ngoại thì những chống đối đánh phá nổi lên, lúc rầm rộ, lúc âm ỉ và bùng nổ mạnh nhất vào thời điểm báo SGN nhập cuộc với “Nghi Án Văn Học lớn nhất thế kỷ”(2008-2009). Một trong cáo buộc của SGN là dựa mảnh báo copy (mà họ cho là copy từ tờ báo Người Việt số 32) kết luận rằng những câu trả lời của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, “tiền hậu bất nhất”. Sau cuộc họp báo ngày 21-11-2008 của Nguyễn Chỉ Thiện, coi như đây là lời cảnh báo cho tờ SGN, bà Đào Nương Hoàng Dược Tháo bắt buộc phải chịu rút lui. Nhưng trước khi cho “Nghi Án Văn Học lớn nhất thế kỷ” chìm xuồng , bà ta còn cố gắng hốt cho được “ván hụi chót” bằng cách thông báo cho sưu tầm chữ ký của người Việt tị nạn cộng sản, bảo họ điền vào phiếu gọi là “Phiếu Không Tin Ông Nguyễn Chí Thiện Là Tác Giả Tập Thơ Vô Đề”. Bà hứa sẽ chuyển giao danh sách cho cơ quan điều tra FBI và Quốc Hội Hoa Kỳ để xin các cơ quan này mở lại hồ sơ về Nguyễn Chí Thiện và cho rằng chấm dứt Nghi Án theo lối này là một hành động “ văn minh, dân chủ khoa học của những công dân hiểu biết của một quốc gia tiên tiến” ( ? ). Từ đó đến ngày nhà thơ Nguyễn Chí Thiện ra đi đã 3 năm và tính đến nay là gần 5 năm rồi, bà Đào Nương Hoàng Dược Thảo thu thập được bao nhiêu chữ ký?, đã giao cho FBI và Quốc Hội Hoa Kỳ chưa? Hoàn toàn không ai biết, không ai nghe bà nhắc đến hành động “văn minh dân chủ khoa học” này nữa mà chỉ thấy báo Người Việt số 32 đưa ra hôm nay là một bằng chứng xác thực nhất cho thấy hành vi ngụy tạo, “Gắp Lửa Bỏ Tay Người!” với ác ý gán cho báo Người Việt số 32 phát hành ngày 24-11-1980, dựng đứng chuyện xấu xa không hề có để bôi nhọ nhân cách nhà thơ Nguyễn Chí Thiện. Thiển nghĩ chính báo Người Việt phải có trách nhiệm đưa ra ánh sáng hành vi đê tiện, phi pháp của kẻ chủ mưu, kể cả những cơ quan ngôn luận đã tiếp tay phổ biến để minh oan cho hương hồn người quá cố.

Ngày 27 tháng 2 năm 2014

Sinh nhật thứ bảy mươi lăm của Nguyễn Chí Thiện

Nhóm Thân Hữu Nguyễn Chí Thiện

——————————–

Báo Người Việt Số 32 và
Nỗi Oan Khuất Của Nhà Thơ

Mặc dù bên ngoài mưa gió tầm tã, những người thương mến cố thi sĩ Nguyễn Chí Thiện vẫn đển tụ họp đông đủ tại Hội Trường Franklin – McKinley School San Jose vào trưa ngày 29 -3-2014 để tưởng nhớ đến ông và nghe giới thiệu tác phẩm “ Nguyễn Chí Thiện Trái Tim Hồng” của tác giả Trần Phong Vũ.

Lần lượt, các diễn giả nhắc lại những vần thơ đấu tranh về tù đày, tội ác mà Nguyễn Chí Thiện đã phải chịu đựng trong suốt hai mươi bảy năm trời chôn vùi cả tuối thanh xuân trong vòng lao lý.

Ta có trái tim hồng
“Không bao giờ ngừng đập
“Căm giận đau thương tràn ngập xót xa
“Ta đương móc nó ra
“Làm quà cho các bạn…..”

………………………………..

Bài “ Trái Tim Hồng” được làm trong giai đoạn tù đày lần thứ ba (1986), mòn mỏi không nghĩ rằng có ngày mình được ra tù nên đã trối trăn:

Một trải tim hồng với bao chan chứa
“Ta đặt lên bờ dương thế trước khi xa”

Trái Tim Hồng của Nguyễn Chí Thiện quả thật như là một thông điệp gửi đi cho thế hệ mai sau.“Biết yêu điều thiện phải biết ghét điều ác. Biết tôn kính đạo đửc , phải biết khinh bỉ gian manh. Cộng sản là những kẻ Trời không dung, Đất không tha, đã bắn giết tù đày hàng triệu đồng bào, những kẻ làm tay sai cho Nga Tàu đẩy cả dân tộc xuống đầm lầy lạc hậu, phá hoại luân thường đạo lý…thì không có cách nào hoà giải hoà hợp với chúng được”.

Và trái tim hồng kia vẫn “rung nhịp yêu thương”. “Chúng ta căm giận mà không tàn ác vì chúng ta trân quí điều thiện. Chủng ta nhân ái mà không khoan nhượng, hoà hợp với tội ác vì chúng ta phẫn nộ trước mọi cái ác. Chúng ta biết ngẩng đầu trước sức mạnh đen tối của bạo lực, nên chúng ta biết khoan dung cho những kẻ biết cúi đầu hối cải, ủng hộ, khuyến khỉch họ trở về với Lương Tri, Với Dân Tộc!”

Mặc dù được sống trong một đất nước tự do, văn minh, vật chất đầy đủ nhưng Trái Tim Hồng lủc nào cũng hướng về quê cha đất tổ, ủng hộ khuyến khích cảc nhà đấu tranh dân chủ bằng cả vật chất lẫn tinh thần..

Một trái tim thiết tha với sự sống còn của dân tộc như thế tại sao lại bị hạ nhục phỉ báng trong chiến dịch đánh phá dựa vào một mảnh báo copy từ báo Người Việt số 32 ? Với mảnh báo này người ta tha hồ chửi mắng Nguyễn Chí Thiện là cán bộ CS,là nuôi điếm, là ăn cắp thơ”… Tiếc thay, họ lại là giới trí thức như nhà báo,bình luận gia, bảc sĩ , luật sư, giáo sư tiến sĩ kinh tế học, chủ tịch cộng đồng, cộng sản đã “hồi tỉnh” v v và vv. Xin mời bạn đọc ghé qua trang nhà Nguyễn Chí Thiện đọc hai bài viết 1/ Hai Điều Phải Nỏi; 2/ Nguyễn Chí Thiện và Báo Người Việt số 32, để giải toả nỗi oan khuất cho nhà thơ . http://nguyenchithien4vn.net/

Bắc Cali 11 tháng Năm 2014
Nhàn SF

http://groups.yahoo.com/group/thaoluan9/message/22921

Bao Nguoi Viet #32 24-11-1980: NCT Mo Dong Diem Quan Ba Mau – Hai Ph

Image51

Nhân ngày giỗ đầu nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, lật lại chồng báo cũ:Nguyễn Chí Thiện và Bài Học Dân Chủ Đầu Tiên
October 26, 2013 by nhansf

NCT Pham Tran 001

Trên đây là nhận định của nhà báo Phạm Trần về sự việc xảy ra tại hội trường đại học luật khoa George Mason Virginia lúc 2 giờ 30 chiều ngày 26-11-1995. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đến Mỹ chỉ 26 ngày sau thì được chào đón ra mắt đầu tiên trong “Buổi sinh hoạt Thơ Nhạc Chào Mừng Nhà Thơ Nguyễn Chí Thiện”ngày giờ tại địa điểm nêu trên.  Hội trường tối đa là 300 chỗ nhưng có đến gần 500 người hiện diện,họ đến để nghe tác giả Hoa Địa Ngục đọc thơ và kể rõ lai lịch về những hoàn cảnh nào mà ông đã làm ra những bài thơ đó cũng như thưởng thức những bài thơ được nhạc sĩ Trần Lãng Minh phổ nhạc do ca sĩ Nga Mi trình bày.

Với tựa đề “Nguyễn Chí Thiện tặng tiền cho tù nhân chính trị” nhật báo Việt Nam Tự Do đã tường thuật đầy đủ chi tiết của buổi sinh hoạt này. Theo bài báo thì trước đó mười ngày,  ban tổ chức, (gồm giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, nhà báo Ngô Vương Toại, nhạc sĩ Trần Lãng Minh, Trần Tử Thanh…) đã lập Sổ Vàng quyên tiền tặng cho nhà thơ Nguyễn Chí Thiện. Ngày hôm đó, bà Nguyễn Thúy Diệm thay mặt ban tổ chức  đã trao cho nhà thơ phong bì tiền. Ông cảm ơn tấm lòng vàng của đồng hương, thi sĩ cho biết suốt 27 năm trong lao tù CS ông đã quen với cuộc sống mỗi ngày lưng bát bo bo với những hạt muối sống , hai bộ quần áo che thân nên ông chưa thấy có nhu cầu nhiều, và nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã trao lại bì thơ tiền cho Đại Tá Nguyễn Cao Quyền Hội Trưởng Hội Tù Nhân Chính Trị Vùng Hoa Thịnh Đốn, coi như món quà xuân nho nhỏ gửi đến các bạn tù trong Hội.

Với  lối nói chuyện dí dỏm chân thành nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã lấy được hầu hết cảm tình của khán giả. Cứ mỗi lần ông dứt lời thì những tràng pháo tay  tán thưởng lại vang dội cả hội trường. Sau khi ông chấm dứt bài thơ “ Đảng,  người quản lý trại giam”(1983)để sang phần Hỏi Đáp thì một người đàn ông (sau này tự giới thiệu là thiếu tá Nguyễn Văn Bang, đại diện cho Mặt Trận Cách Mạng Hưng Phục Việt đến từ Philadelphia tiểu bang Pennsylvania) bất thình lình nhảy lên sân khấu đến vỗ lưng ông khiến giáo sư Đào Thị Hợi, phu nhân giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đứng gần đó, vội vã đưa  nhà thơ trở về chỗ ngồi. Ông Bang dành lấy micro của ban tổ chức, bày tỏ lòng kính mến nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và muốn hát tặng nhà thơ một bản nhạc tù ca của Trung Úy Hồng pháo binh trại tù Nam Hà. Ban tổ chức không đồng ý, đôi bên giằng co lời qua tiếng lại, dưới có nhiều tiếng la lớn “xuống ! xuống!”, đồng thời cũng có tiếng đồng ý cho ông Bang hát. Trước tình trạng đó, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã lên micro xin ban tổ chức nên để cho ông Bang trình bày bài hát. Nhà thơ nói nguyên văn như sau: “Tuy thời gian dành cho chương trình hơi ngắn, nhưng trước nhiệt tình của anh bạn này đây nên để anh  bạn hát một bài, có thể bỏ bớt phần trả lời của tôi đi cũng được. Nhận định của anh em quan trọng hơn, chúng ta không nên khước từ”.

Hành động của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện theo nhà báo Phạm Trần, thì đây là một “hành động đáng kính và công bình. Ông đã can thiệp cho một người muốn nói được nói- một sự kiện mà nhà thơ đã không tìm thấy ở Việt Nam và chỉ vì muốn nói lên sự thật mà Nguyễn Chí Thiện đã bị CS giam giữ gần nửa đời người trong ngục tù tăm tối“! Cũng theo nhà báo Phạm Trần, nhà thơ đến đây “không phải chỉ muốn được nghe những lời ca tụng, mà chính muốn nghe những gì họ suy nghĩ, họ băn khoăn và cũng muốn học nơi đồng bào những bài học dân chủ và tự do tại Hoa Kỳ, một đất nước tiêu biểu nhất của tự do và dân chủ trên thế giới”

Tiếc thay, ông Bang khi được can thiệp cho nói và hát rồi thì lại “vượt ra ngoài vòng đai của dân chủ”, có nghĩa là ông ta đã không ngừng tại đó mà rút trong túi áo ra đưa cao lên một tập tài liệu la lớn “ Kính thưa quí vị, đây là một bài viết của Đoàn Quốc Đăng Long…” . Lập tức ban tổ chức ngăn cản, đưa ông Bang xuống, ông không chịu và leo trở lên lại sân khấu rồi đưa hai tay cao hô lớn “Anh em hãy đứng dậy”.Tiếp tay với ông Bang là cố đại úy Võ Bình, đại diện cho Mặt Trận Cách Mạng Hưng Phục Việt(MTCMHPV )tại Bắc Cali, đứng bên trái phía dưới sân khấu cũng kêu gọi thành viên của tổ chức này ngồi rải rác trong hội trường hãy hưởng ứng lời của ông Bang. Nhiều tiếng la phản đối việc gây trở ngại cho chương trình. Cảnh sát đến yêu cầu “Everybody out! Out!”đưa thành phần gây rối ra khỏi hội trường thì ngay lập tức một vài người đứng lên xách động bằng những tiếng  hô lớn “ Everybody out! Out! Out! Out!” khiến ban tổ chức phải kêu gọi mọi người không liên quan xin ngồi tại chỗ. Buổi sinh hoạt chấm dứt sau bài hát “Đời Tôi” do nhạc sĩ Trần Lãng Minh trình bày.

Ai Chống Cộng “Cuội”?

Buổi sinh hoạt cho thấy hai sự kiện nổi bật. Một bên vừa thoát khỏi 27 năm tù tội, đặt chân lên nước Mỹ chỉ mới 26 ngày mà cách hành xử là của  người như đã được hấp thụ  một nền giáo dục của đất nước văn minh, yêu chuộng tự do  biết lắng nghe, và tôn trọng ý kiến của người khác. Còn một bên tuy sống lâu năm trên phần đất tự do nhưng lại lợi dụng sự tự do lấn áp người khác, muốn đạp đổ hơn  là xây dựng8. Cho nên cũng không ngạc nhiên khi thấy MTCMHPV của lãnh tụ Lê Tư Vinh có vẻ hả hê vì đã “dập tắt” được buổi sinh hoạt. Bản tin Vạn Thắng, tiếng nói của MTCMHPV sau đó viết rằng : “Thế là Buổi Thơ Nhạc của NGUYỄN CHÍ THỊÊN chấm dứt. Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện không biết đã được hộ tống và chuồn mất từ lúc nào? Tiếc cho ông Nguyễn Chí Thiện và BTC (Ban Tổ Chức) chưa thu được tiền “hụi”vì thùng “SỔ VÀNG” vẫn trống trơn, đứng đó đợi chờ “thập phương cúng dường” để giúp đỡ tù nhân chính trị vùng Hoa Thịnh Đốn!”.

Đoạn văn trên trích từ bài viết “ Tô Son Đánh Phấn Quá “Khẩn Trương” Cho Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện” của Mai Lĩnh, một nhân vật chống cộng rất năng nổ tại Bắc Cali với tên cúng cơm là Võ Tự Đản.  Vào năm 2003 ông Võ Tự Đản được nhiều người ở Bắc Cali biết đến nhờ việc ông tung ra lá thư tố giác ông Bùi Tín đã sát hại thân phụ ông. Kể từ đó ông ra mặt dấn thân vào con đường đấu tranh không ngừng nghỉ. Nhân danh Chủ Tịch Mặt Trận Quân Dân Chống Cộng Bắc Cali, ông hô hào biểu tình, chống người này là Việt gian, đánh cơ quan kia là tuyên vận và cái tổ chức chống cộng của ông không biết có được bao nhiêu người, có còn hoạt động nữa không mà nay chỉ thấy mỗi mình ông “dao to búa lớn” trên các diễn đàn dưới nhãn hiệu Viêttrung1930.

Phần cuối bài viết, Mai Lĩnh kể ra một số câu hỏi của khán giả (?) đặt ra tại bãi đậu xe và được thiếu tá Nguyễn Văn Bang, cùng với thành viên của  MTCMHPV trả lời, xin ghi lại hai trong số bốn câu hỏi đó :

1-Với lý do gì mà các ông làm như vậy?

Thiếu tá Bang trả lời nguyên văn như sau: “ Chúng tôi  chỉ muốn gióng lên một tiếng trống để báo hiệu cho đồng bào đề phòng về một âm mưu chính trị nằm trong kể hoạch “lột xác” của Cộng Sản. Kế hoạch này nhằm đánh bóng một số nhân vật với đầy thành tích chống Cộng “cuội” để có thể chiêu dụ, chuyển biến tư tưởng chống Cộng của đồng bào hải ngoại sang một chiều hướng thuận lợi cho CSVN”.

2- Dựa vào bằng cớ nào các ông phủ nhận ông Nguyễn Chí Thiện là tác giả tập thơ?

MTCMHPV trả lời :

“- Các ông đã đọc: Tuyển Tập Nguyễn Chí Thiện Là Ai Trong Âm Mưu Của Tập Đoàn Cộng sản Việt Nam và Chính Phủ Hoa Kỳ? mà chúng tôi cho in và phân phối cả tuần nay trong vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn cũng như khắp các tiểu bang Hoa Kỳ? Ngoài sự tố cáo của Mặt Trận chúng tôi về tập đoàn Cộng Sản Hà Nội tiếm đoạt và gán ghép tập thơ Vô Đề và Khuyết Danh cho tên Nguyễn Chí Thiện, còn có những bài viết khảo cứu của các học giả khác như GS Trần Ngọc Ninh…đã xác định Tập thơ trên tác giả là cụ Lý Đông A, đã được đăng trên báo Vạn Thắng số đậc biệt 1,2 và 3 vào năm 1992”.

(Ngưng trích)

Từ buổi sinh hoạt hôm đó đến nay thiếu một tháng nữa là được tròn 18 năm. Thời gian là yếu tố quan trọng và cần thiết nhất để xác định những gì MTCMHPV đưa ra ở trên đúng hay sai. Trong suốt thời gian gần 18 năm đó nhà thơ Nguyễn Chí Thiện xuất hiện không biết bao nhiêu lần tố cáo tội ác Hồ Chí  Minh và Đảng CSVN cho cả thế giới, gặp gỡ các nhân vật lãnh đạo, các nhà đấu tranh dân chủ toàn cầu trình bày cho họ hiểu tai hoạ của chủ nghĩa Mác Lê….thì tất cả, theo lãnh tụ MTCMHPV Lê Tư  Vinh, đều là chống cộng “cuội”.  Với tập đoàn MTCMHPV thì những tổ chức nào đứng ra sắp xếp, mời Nguyễn Chí Thiện đến nói chuyện họ đều là cò mồi, là tay sai CS. Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện có trí nhớ tuyệt vời, nói năng lưu loát, khôi hài hoá châm biếm câu chuyện tạo ra nhiều trận cười cho người nghe thì, theo tập đoàn này, đó chỉ là phong độ của một cán bộ được CS huấn luyện đưa ra hải ngoại để “chiêu dụ, chuyển biến tư tưởng chống cộng của đồng bào hải ngoại sang một chiều hướng thuận lợi cho CSVN”. Với bộ óc “phong phú” “cụ”Lê Bạch Trúc Quân, một thành viên  MTCMHPV chống cộng khét tiếng tại Bắc Cali, đã lý luận cho rằng “ trong 27 năm tù, Nguyễn Chí Thiện làm gì có cơ hội nào đứng trước đám đông để nói chuyện đọc thơ mà giờ đây với ánh sáng âm thanh hiện đại, Nguyễn Chí Thiện chững chạc bình tĩnh trước ống kính quay phim như một lãnh tụ, biểt nói , biết cười, biết pha trò dẫn dụ người nghe vào mê hồn trận”. Với chừng ấy “bằng chứng”,  “cụ” Lê Bạch Trúc Quân phán quyết : “ Vì có quá nhiều nghi ngờ, tôi khẳng định Nguyễn Chí Thiện là một tên bịp, tên cò mồi mới trong âm mưu  làm mờ ảo CHÍNH NGHĨA và vai trò LÃNH ĐẠO từ phía người VIÊT QUỐC GIA!”.( Phản tỉnh để tìm ra âm mưu trong lá bài Nguyễn Chí Thiện – Vạn Thắng- Lê Bạch Trúc Quân).

Hôm nay, một năm sau ngày nhà thơ Nguyễn Chí Thiện ra đi, chúng tôi- nhóm Thân Hữu Nguyễn Chí Thiện- bắt buộc phải lên tiếng, điều mà lúc sinh thời nhà thơ cho là không cần thiết, để  vạch trần âm mưu của thành phần lợi dụng tự do, mang nhãn hiệu chống cộng đánh phá những cá nhân những tổ chức nào bất lợi cho CS!  Đặt vấn đề , giả dụ cho Nguyễn Chí Thiện là chống cộng cuội, là cán bộ được CS huấn luyện đưa ra hải ngoại thi hành chiến dịch Về Nguồn  vv…thì thử hỏi có Đoàn Thể,  Mặt Trận, Tổ Chức nào trong cộng đồng hải ngoại là nạn nhân của tên cộng sản chống cộng “cuội” Nguyễn Chí Thiện kia trong suốt 18 năm qua hay không? Thật  trớ trêu thay vì chẳng có ai ngoài Mặt Trận Cách Mạng Hưng Phục Việt của Lê Tư Vinh. Hãy nghe MTCMHPV bày tỏ lập trường quan điểm của mình trên tờ Vạn Thắng đặc biệt số 9 như sau:

1 – Đất nước lầm than khốn khổ vì tập đoàn Việt gian mà Nguyễn Văn Thiệu là tiêu biểu còn Việt cộng thì chưa hẳn.

2- Ca ngợi thành phần CS năm xưa , họ có lý tưởng, trong sạch liêm khiết mà Phạm Văn Đồng là một

3- Lên án bọn Bắc Bộ Phủ hiện nay đã cấu kết với tư bản đánh mất đi lý tưởng cs nguyên thủy. Tuy nhiên thành phần này nếu biết ăn năn hối cãi thì vẫn có thể cho quay về với dân tộc, còn Nguyễn Văn Thiệu thì không, Y là tội đồ của dân tộc, là tên quốc phạm  

Chỉ bao nhiêu đó tóm tắt trong một bài bình luận nơi trang nhất cho thấy những gì mà MTCMHPV mang ra đánh phá Nguyễn Chí Thiện thì chính Lê Tư Vinh và đồng bọn đang tự tát vào mặt mình. Bỏ qua những lý luận hồ đồ sai trái, chụp mũ bôi lọ cá nhân nằm đầy dẫy trong Tuyển Tập  Vạn Thắng, chỉ cần nhìn vào trang 4- 6 sẽ thấy Vạn Thắng viết về cụ Lý Đông A , một chiến sĩ yêu nước chống cộng, như sau: “Ông Lý đến Trung Hoa gặp những nhà cách mệnh Việt Nam còn sống sót…và biết được rất nhiều về Nguyễn Tất Thành. Sau này lui về Liễu Châu ( 1942) ông lại gặp hắn bằng xương bằng thịt, nhưng  vẫn chủ trương cũ do Stalin truyền cho Borodin, là ở Trung Hoa và Việt Nam phải theo con đường dân tộc để xây dựng Cộng Sản…..” (ghi chú : lúc đó Hồ Chí Minh làm việc dưới sự điều động của Borodin, một gián điệp của Liên Sô taị Trung Hoa)

Vậy, nếu biết rõ con đường đi của  Hồ Chí Minh như thế thì làm sao cụ Lý, vào mùa Thu 1954 (Vạn Thắng gọi là mùa Thu 1945) lại có thể:

“…Ngỡ cờ sao rực rỡ
Tô thắm màu xứ sở yêu thương
Có ngờ đâu giáo giở  đã lên đường…”
Rồi đến năm 1963 cụ lại thú tội :
“…Cuộc đời tôi có nhiều lầm lẫn
Lầm nơi, lầm lúc, lầm người
Nhưng cái lầm to uổng phí cả đời
Là đã ngốc nghe và tin Cộng Sản!”

Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ hiểu tại sao trong suốt thời gian nhà thơ Nguyễn Chí Thiện còn sống, MTCMHPV không bao giờ dám trực diện đối chất bằng thông cáo chính thức mời gọi mọi người ngoài trừ buổi sinh hoạt duy nhất nêu trên?

Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ giải thích tại sao Vạn Thắng, MTCMHPV của Việt Viêm Tử Lê Tư Vinh không còn “hùng hổ“ như những năm đầu mà phải bò vào hang động Dominotrungcong nằm chờ. Tuy thế,con rắn độc MTCMHPV vẫn không chịu bỏ cuộc, mỗi năm vẫn phì phì nhả độc, nào là Bạch Long (Bách Linh), Chu Sa, Lê Văn Xương, Nhất Hanh, Nguyễn Văn Ruộng (Hoàng Duy Hùng)…, cho đến khi chui vào được cái hang rộng lớn bề thế của Đào Nương Hoàng Dược Thảo thì vội vàng  khai tử ngay cụ Lý Đông A một cách không thương tiếc, tôn vinh thi sĩ “vô Danh”, xoá bỏ văn bản “Khai Mạc Vụ Án Văn Của Cuối Thế Kỷ Hai Mươi”thay vào đó là “ Nghi Án Văn Học”, đứa con mà con mụ “nhà quê” kia mang nặng đẻ đau chỉ trong vòng chớp nhoáng!!!

Cali tháng Mười năm 2013
Nhóm Thân Hữu Nguyễn Chí Thiện

NCT tang tien tai George Mason 001

Nguyễn Chí Thiện Tặng Tiền Cho Tù Nhân Chính Trị

Trong “Buổi Sinh Hoạt Thơ Nhạc Chào Mừng Nhà Thơ Nguyễn Chí Thiện” được tổ chức tại đại học George Mason, Virginia lúc 2giờ 30 chiều chủ nhật 26-11-1995, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã được cam tình trọn vẹn của khối quần chúng thầm lặng  khi đến nghe ông đọc thơ và kể rõ lai lịch về những hoàn cảnh mà ông đã làm những bài thơ.

Ngay cổng vào, bên ngoài, bên trong hội trường và nhiều nơi khác có những tấm bảng lớn với hàng chữ: “Chào Mừng Nhà Thơ Bất Khuất Nguyễn Chí Thiện”, “Hoan Hô Tinh Thần Chống Cộng Của Ngục Sĩ Nguyễn Chí Thiện”, “Nguyễn Chí Thiện, Biểu Tượng Nhân Quyền Việt Nam”. Từ mười ngày trước, Ban Tổ Chức đã lập Sổ Vàng quyên tiền để tặng cho nhà thơ Nguyễn Chí Thiện. Ông Nguyễn Chí Thiện rất vui mừng trước lòng ưu ái của đồng bào Hoa Thịnh Đốn. Sau khi nhận được phong bì không biết rõ bên trong có bao nhiêu tiền , ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện đã trao tất cả lại cho bà Nguyễn Thúy Diệm và nói rằng ông rất cảm kích trước những tấm lòng vàng của đồng hương, nhưng trong suốt 27 năm ngục tù cộng sản ông đã quen với cuộc sống mỗi ngày lưng bát bo bo với những hạt muối sống , hai bộ quần áo che thân, nên ông chưa thấy có nhu cầu nhiều. Trong khi ở Hoa Kỳ việc kiếm tiền không phải dễ dàng, nên nhà thơ Nguyễn Chí Thiện xin tặng tẩt cả số tiền của ông vừa nhận được , như một món quà xuân nho nhỏ gửi đến các bạn tù trong Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị trong vùng còn thiếu thốn phương tiện – mà mặc nhiên ông đã trở thành thành viên khi đặt chân đến vùng đất này – và xin trao lại cho đại tá  Nguyễn Cao Quyền Khu Hội Trưởng.

Bà Trương Anh Thụy, thay mặt Ban Tổ Chức, trong lời chào mừng đã nói rằng “Chúng tôi mong rằng hôm nay nhà thơ sẽ tìm thấy rất, rất nhiều người ngồi nghe thơ ông và cảm được với những lời tâm huyết của ông. Chúng tôi cũng ước mong chiều nay khi quí vị ra về cũng sẽ mang theo những cảm nghĩ tốt đẹp đối với nhà thơ, ngục sĩ đã từng làm rúng động lương tâm thế giới bằng những vần thơ máu lệ và đầy khí phách của ông”. Nhà báo Ngô Vương Toại đã nói trước cử toạ “Chưa bao giờ có một buổi họp mặt ở vùng Hoa Thịnh Đốn mà số người tham dự đông đến như thế này. Tôi hiểu và chắc quí vị cũng hiểu, đó là chúng ta cùng chia xẻ tâm trạng là đón mừng nhà thơ của đất nước đã đến với chúng tangày hôm nay.” Ông Nguyễn Ngọc Bích, người được coi là linh hồn của ban tổ chức, trước khi điều khiển lễ chào cờ, đã cẩn thận căn dặn cử toạ rằng: “Ở trường đại học này cũng có nhân viên an ninh, họ lo xem xe cộ này kia ở Parking Lot, khi mà xe đậu ẩu họ cũng phải ghi những số và những xe nào lạ đôi khi họ cũng ghi số để có chuyện gì họ cũng cần biết.

Một điểm nữa là vấn đề mà chúng tôi dám chắc rằng không thể nào xảy ra được, nhưng tuy nhiên cũng ở trong tinh thần đề phòng thì,  vì mặc nhiên nhà thơ Nguyễn Chí Thiện là một tên tuổi cũng đã gây khá nhiều nhức nhối cho cộng sản, do đó cũng có thể có những thành phần  tìm cách trà trộn để gây rối. Trong trường hợp đó thì khi bắt buộc chúng tôi sẽ phải mời cảnh sát đến, mỗi lần như vậy phải mất từ 400 đến 500 trả tiền cho cảnh sát họ đến, và cái đó thì người nào gây ra sự trục trặc đó thì phải chi trả số tiền đó. Vì vậy chúng tôi mong tất cả quí vị tiếp tay cho chúng tôi,  tiếp tay cho ban tổ chức để cho chúng ta có một buổi sinh hoạt thật đầm ấm và đặc biệt thể hiện truyền thống của miền Đông Hoa Kỳ là khi chúng ta làm văn nghệ, làm văn hoá, chúng ta tôn trọng một nếp sống mà chúng ta có thể rất lấy làm hãnh diện

Hội trường Luật Khoa George Mason tối đa là 300 chỗ, nhưng số hiện diện trên dưới 500 người. Ngoài rất đông những người ngưỡng mộ nhà thơ Nguyễn Chí Thiện muốn được gặp mặt, còn có những người khác vì lòng hiếu kỳ muốn đi xem cho biết chuyện gì sẽ xảy ra sau khi nghe tin đồn từ hai ngày trước là Mặt Trận Mách Mạng Hưng Phục Việt của lãnh tụ Lê Tư Vinh đã điều động một số thành viên từ các tiểu bang California, Pennsylvania v.v…về để nhân dịp này đặt vấn đề tập thơ Hoa Địa Ngục là của Thái Dịch Lý Đông A. Bà Nguyễn Thúy Diệm, người điều khiển chương trình, cho biết từ 1giờ30 PM đã có khoảng 3,4 chục người ngồi ở nhiều chỗ khác nhau trong hội trường. Người đến tham dự còn được một số người đứng ở lối lên cầu thang phân phát một tập in lại những bài đã đăng trên tờ Vạn Thắng từ mấy năm trước với chủ đề Nguyễn chí Thiện Là Ai? Ngoài ra còn phân phát một bài viết khác 2 trang mà phần lớn nội dung là đả kích Hoa Kỳ.

Đúng giờ khai mạc, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện bước vào hội trường giữa những tràng pháo tay chào mừng. Ông đã chấp tay vái chào quan khách và đến bắt tay cụ Hội Trưởng Hội Người Việt Cao Niên và các vị khác. Trong phần giới thiệu về tiểu sử Nguyễn Chí Thiện, ký giả Ngô Vương Toại chủ nhiệm báo Diễn Đàn Tự Do đã nói “Tháng 9-1980, tập thơ Hoa Địa Ngục mà lúc ấy còn mang tên là Tiếng Vọng Từ Đáy Vực, từ một tập thơ được in đầu tiên của anh Viên Linh và anh Nguễn Hữu Hiệu thì người Việt hải ngoại được biết tới tiếng thơ của một ngục sĩ trong nước mà lời thơ đã làm nên những chấn động dữ dội và mau chóng chinh phục và ghi đậm trong tâm khảm của cả triệu người tị nạn khắp năm châu bốn bể. Ảnh hưởng của tiếng thơ này trong tâm thức của người Việt hải ngoại bên cạnh sự chú ý của thế giới cũng chỉ là để nói đến nhân cách đặc biệt của thi sĩ Nguyễn Chí Thiện mà từ hơn 15 năm, kể từ khi bài thơ ông làm, được bên ngoài cánh cửa tù Việt Nam biết đến, trở thành tiếng thơ tiêu biểu thể hiện cho hồn nưởc, cho tình người, một tiếng thở của dân tộc bị đày ải, một tiếng kêu của đất nước trong giai đoạn bất hạnh cùng cực, một tiếng trống thúc quân của những kẻ sĩ ý thức được sự đớn đau của đất nước, kêu gọi đứng dậy cho một ngày mai tốt đẹp cho đồng bào. Và chính ông tự xác định đấu tranh chống cộng trên thế đứng bằng ngòi bút đó. Cái giá phải trả cho sự lên tiếng của ông , cho sự quật cường của ông và có khi cao ngạo đó của thi sĩ là 27 năm tù”

Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người mà ngay từ những ngày đầu thập niên 80, đã cùng với nhạc sĩ Phạm Duy phổ biến rộng rãi những bài thơ đấu tranh của người tù vì lương tâm Nguyễn Chí Thiện. Trong phần cuối của bài khảo luận “Tiếng Thơ Nguyễn Chí Thiện”, đọc tại buổi sinh hoạt, giá sư Bích kết luận “ Xưa Đỗ Phủ bên Tàu  chỉ có mấy bài thơ  như Thạch Hào Lại và Tân An Lại nói về nạn bắt lính mà người đời cho thơ ông đầy tính nhân bản, đầy lòng thương cảm đối với những thành phần thấp cổ bé miệng. Thưa quí vị, so với thơ họ Đỗ thì  gần 400 bài trong Hoa Địa Ngục của Nguyễn Chí Thiện đều là những bài thơ nói lên thân phận của người dân thường, của những con người vô danh không bao giờ đi vào lịch sử nên những chế độ độc tài chuyên chế mới dám đàn áp thẳng tay, không thương tiếc không gớm tay. Thơ Nguyễn Chí Thiện còn tràn ngập một lòng thương xót cho quê hương ngục tù, trong đó con người không lớn lên được. Hình ảnh đói rách trong thơ ông tuy thật đấy song vẫn chỉ là một biểu tượng. Ý ông tôi nghĩ là muốn nói, những con người ngày đêm, sáng tối chỉ bị dày vò bởi một ý nghĩ về miếng cơm còn đâu thì giờ để làm cái gì cao xa hơn như văn hoá, làm gì còn có chỗ cho tình người. Đó là cái hoạ phi -nhân- bản -hoá cả một dân tộc. Có lẽ vì vậy mà thơ của ông gần gũi với chúng ta, những điều chúng ta mới cảm thấy vu vơ thì ông đã thốt nên lời. Cộng thêm vào đó lòng khao khát tự do, một nội dung rất  mới của thơ Việt Nam. Chả trách Nguyễn Chí Thiện đã trở thành tiểng nói, tiếng lòng của chúng ta, của cả dân tộc.

Hoa Địa Ngục giờ đây có thể nói là tập thơ Việt Nam được nhiều người thuộc nhất trong thế kỷ 20. Rồi đây với những giòng phổ nhạc, tập thơ chắc chắn sẽ bay đi khắp địa cầu để về quê hương trở thành những tiếng trống lệnh cho giai đoạn tới của cách mạng Việt Nam, cách mạng lật đổ bạo quyền cộng sản, để trả lại tự do dân chủ và nhân quyền cho 75 triệu dân Việt.

Trong nổ lực đó, tôi xin tình nguyện và hãnh diện làm người lính mang lửa Nguyễn Chí Thiện đi khắp năm châu. Nếu bài báo của tôi trong Asiaweek vào tháng 7- 1982 là bài báo đầu tiên giới thiệu Hoa Địa Ngục bằng tiểng Anh đến với thế giới, thì những bản dịch của ông Huỳnh Sanh Thông ở Yale và của tôi cũng đã giúp mang thơ  Nguyễn Chí Thiện sang các nước cộng sản cũ (như Jachym Topol dịch thơ ông từ bản tiếng Anh của tôi sang tiếng Tiệp từ 1989). Chính thi sĩ được biết, qua một người cháu đi du học ở Nam Kinh, là thư viện ở Trung cộng hiện cũng có thơ Nguyễn Chí Thiện dịch sang tiếng Trung Hoa (in ở Đài Loan).Và gần đây nhất, cách đây hơn một tháng, vào ngày 20-10-1995, tại nhạc viện của thành phố Klagenfurt, Áo Quốc, tiến sĩ Guenter Mattitsch, một nhạc sĩ nổi danh của Áo, đã cho trình bày 14 bài thơ của Nguyễn Chí Thiện do ông phổ nhạc dựa trên bản dịch Echo aus dem Abgrund, tức Tiếng Vọng Từ  Đáy Vực của tiến sĩ Bùi Hạnh Nghi ở Đức. Và như ta được biết, thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đã được giải thơ quốc tế ở Hoà Lan và giải Tự Do của Trung Tâm Văn Bút Hoa Kỳ. Ông còn là hội viên danh dự của nhiều trung tâm văn bút trên thế giới, trong đó có trung tâm Pháp, trung tâm Thụy Điển và trung tâm Nhật. Như vậy ta có thể khẳng định và tin tưởng rằng thông điệp Hoa Địa Ngục sẽ còn nhiều cơ hội đi xa, đi rất xa. Nếu được sự tiếp tay của quí vị thì chính chúng tôi sẽ cho ra mắt nay mai, với sự thoả thuận của tác giả, một tuyển tập dịch sang tiếng Anh khoảng ¾ toàn bột tập thơ Hoa Địa Ngục”.

Với lối nói chuyện dí dỏm, với tấm lòng rất chân thành –  như một lời nhận định của một nhà văn – nhà thơ Nguyễn Chí Thiện trong hơn 30 phút đã nói về một số bài thơ tù mà ông đã làm trong những trường hợp khác nhau. Cứ nghe những tiếng vỗ tay thật nồng nhiệt của cả hội trường chật ních kẻ đứng người ngồi, cứ nghe những tiếng khen buột ra từ cửa miệng cử tọa , một lần nữa- như lời bà Nguyễn Thị Vân-“ nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã được mọi người thương mến, ông ta giỏi quá, hay quá !” Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng phát biểu “ Nếu ngày trước mà Bộ Dân Vận VNCH có những người như Nguyễn Chí Thiện thì hay biết mấy”.

Sau khi ông Nguyễn Chí Thiện vừa dứt lời với bài thơ

“Đảng , người quản lý trại giam
Nước Nam là một trại giam khổng lồ
Chúa ngục là lão già Hồ
Duẫn, Chinh,Đồng lũ cai tù bất nhân
Tội đồ là những người dân
Xác thân đói khổ bội phần xót xa !
Luân thường, nhân phẩm tiêu ma
Tài năng, trí tuệ dần dà rỉ han
Đảng còn đó còn lầm than
Còn đau đớn nước, còn tan nát nhà
Đó là kết luận rút ra
Từ trong thực tế xương da não nùng !
Xa hoa hưởng thụ tột cùng
Lũ cai tù vẫn ung dung tự hào
Lá cờ Năm Cánh Vàng Sao
Mặc cho nhân loại nhổ vào tởm kinh
Giữa lòng thế giới văn minh
Việt Nam Cộng Sản điển hình dã man
Đảng nguồn gốc mọi khổ oan
Đảng tan,  oan khổ cũng tan theo cùng.

( Đảng, người quản lý  – 1983  )

Và nói xin chúc quí vị mạnh khoẻ và bây giờ bước sang phần  Hỏi Đáp thì lập tức cựu thiếu tá Nguyễn Văn Bang, đến từ Pennsylvania, nhảy lên sân khấu, bước đến bên cạnh nhà thơ Nguyễn Chí Thiện vỗ lưng ông và nói rằng “ Tôi cũng là một người tù chính trị, tôi xin chia xẻ với anh một bản nhạc, một tù khúc để tặng anh Nguyễn Chí Thiện”. Bà Nguyễn Ngọc Bích tức tiến sĩ Đào Thị Hợi đã đứng ngay sau lưng nhà thơ Nguyễn Chí Thiện vội vàng đưa ông về chỗ. Ông Nguyễn Văn Bang bước đển micro. Bà Nguyễn Thúy Diệm người điều khiển chương trình nói rằng thời giờ có hạn, ông Ngô Vương Toại giải thích tiếp, các ông Phó Hồng Hà, võ sư Vương Đình Thanh, ông Nguyễn Văn Thông bước lên mời ông Nguyễn Văn Bang về chỗ an toạ.Trong lúc trên sân khấu lời qua tiếng lại thì bên dưới có nhiều tiếng hô lớn “đi xuống, xuống đi, xuống đi” và cũng có tiếng đáp lời Nguyễn Văn Bang đồng ý nên để ông Bang hát. Trước tình trạng đó, nhà thơ  Nguyễn Chí Thiện đã đứng lên xin ban tổ chức để  Thiểu Tá Nguyễn Văn Bang được trình bày bài hát. Ông Nguyễn Chí Thiện nói nguyên văn như sau: “Tuy thời gian dành cho chương trình hơi ngắn, nhưng trước nhiệt tình của anh bạn đây, nên để anh bạn hát một bài, có thể bỏ bớt phần trả lời của tôi đi cũng được. Nhận định của anh em quan trọng hơn, chúng ta không nên khước từ”. Trước micro ông Bang nói nguyên văn như sau: “ Tôi xin tự giới thiệu tôi là Thiếu Tá Nguyễn Văn Bang. Trước hết tôi xin cảm ơn ban tổ chức cho tôi vài phút để hát một bài tù ngục. Bởi vì tôi và tất cả các anh em ở trong này rất nhiều người cũng ở tù, cái hoàn cảnh không khác gì anh Nguyễn Chí Thiện cả, cũng đói khổ, cũng lầm than, cũng điêu đứng. Và đây là bản nhạc xin tặng cho anh Nguyễn Chí Thiện, tù nhân Nguyễn Chí Thiện và các Trung Tướng, Thiếu Tướng đã qua đây từ 1975 mà tôi thấy có mặt trong hội trường này, để cảm kích với nỗi lòng của những người em út của quí vị có mặt hôm nay. Tôi xin hát bản nhạc của Trung Úy Hồng pháo binh, độc thân, ở tù tại trại Nam Hà mà ai cũng biết”. Và dưới đây là lời của bản nhạc :“Này em, ta không quên đâu những ngày tù tội. Này em, ta không quên đâu những ngày tăm tối. Này em, ta không quên đâu những ngày nhục nhằn. Này em, ta không quên đâu mối thù muôn đời. Và dù không là gì cả, cũng xin làm đôi giày dũng sĩ trở về dẫm nát tim kẻ thù. Này em, cha mẹ em vẫn còn tù tội. Này em, chị  anh em vẫn còn tăm tối. Này em, quê hương ta vẫn còn mù mịt. Này em, quê hương ta vẫn còn nô lệ. Và dù không là gì cả, cũng xin làm đôi giày dũng sĩ trở về dẫm nát tan xích xiềng. Cho tôi xin một lần gục ngã, cho em tôi muôn đời ngẩng mặt. Cho tôi xin một lần được chết, cho em tôi muôn đời thênh thang. Cho tôi xin một lần thù hận, cho em tôi ngàn đời rực rỡ. Cho tôi xin một thời chiến tranh, cho em tôi muôn đời thái bình. Và dù không là gì cả, tôi cũng xin làm đôi giày dũng sĩ trở về dẫm nát tim kẻ thù”.Chỉ một bản nhạc như thế đó mà Trung Úy Hồng bị cùm cho đến chết”. Sau đó ông Bang đọc mấy bài thơ chống cộng của Nguyễn Chí Thiện cùng những lời ca ngợi thi sĩ, nhưng khi ông ta chuyển sang mục khác khi rút từ trong túi áo ra một tập tài liệu định đọc, miệng la to “Đây là …” thì ban tổ chức ngăn cản. Ông Ngô Vương Toại dùng micro của ông Bang để mời ông Bang về  chỗ. Mấy người đưa ông xuống, ông Bang không chịu và leo trở lại lên sân khấu rồi dương hai tay cao lên hô lớn “Anh em đứng dậy”.  Một vị khác mặc complet nâu nhạt đứng bên trái phía dưới sân khấu tiếp tay cổ võ nhưng không rõ có bao nhiêu người đứng dậy. Nhiều tiểng hô lớn phản đối việc gây trở ngại cho chương trình. Nhà văn Phan Vỹ, cháu ruột cụ Phan Khôi, năm nay 72 tuổi, 7 lần ở tù cộng sản tổng cộng 25 năm, đã đứng dậy lớn tiếng chỉ trích những người  không tôn trọng chương trình của buổi sinh hoạt. Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích nói trên micro:  “ Thưa Quí Vị, thưa anh Nguyễn Vân Bang, chúng tôi đi gọi cảnh sát ngay bây giờ. Tiền phạt 4, 5 trăm quí vị phải chịu. Xin mời quí vị đi ra ngay khỏi phòng này. Nhờ các anh chị đưa anh Bang ra khỏi phòng ! Đưa ngay lập tức ra khỏi phòng cho chúng tôi”. Nhiều xe cảnh sát kéo đến trong đó có cả  xe của toán chống bạo động, có cả cảnh sát Liêng Bang. Để tái tạo trật tự, bà Nguyễn Thúy Diệm đã giới thiệu nhạc si Trần Lãng Minh hát bản nhạc Đời Tôi, khán giả nhịp nhàng vỗ tay theo. Bên dưới hội trường, nhân viên của đội cảnh sát bước vào yêu cầu “ Everybody Out!”, “Everybody Out!”  “ Out ! Out! Out!” , trong khi trên micro ban tổ chức kêu gọi “Mọi người vô can trong vụ này hãy quay về chỗ. Thiếu tá Nguyễn Văn Bang thay vì đi ra cửa lại trở lại đi về hướng sân khấu. Hình ảnh của video ghi lại cho thấy rõ từng khuôn mặt xuất hiện trong lúc này. Trong buổi sinh hoạt có lúc đèn bị tắt khoảng 2 phút. Nguyên do, người thì nói là vì đông quá nên có một phụ nữ trong lúc chen lấn đã đụng phải nút bật điện nên đèn tắt. Sau bài hát, bà Nguyễn Thúy Diệm tuyên bố kết thủc chương trình. Tại bãi đậu xe, cảnh sát đã ghi bảng số và ra lệnh mọi người trên hai chiểc xe van trắng ra khỏi xe để thẩm vấn.

Khán giả khi ra về nói với nhau rằng: “Mọi hư thực, chân giả sớm muộn cũng sẽ phơi bày trước ánh sáng.. Thúng không úp được miệng voi”. Có một điều ai cũng nhận thấy là ông Nguyễn Văn Bang, Mặt Trận Cách Mạng Hưng Phục Việt của lãnh tụ Lê Tư Vinh, ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện đều là những người chống chủ nghĩa Mác Xít, chống cộng sản Hà Nội, đều là người mưu cầu Tự Do Dân Chủ cho đất nước. Nếu có sự dị đồng nào đó, có lẽ ở trong phương thức đấu tranh hay trong một số sự việc chưa được các bên làm sáng tỏ. Trong giai đoạn đẩu tranh chính trị trực diện này, Cộng sản đã ở ngay sát chúng ta với tòa đại sứ Hà Nội ở thủ đô Washington, quần chúng thầm lặng đang chờ đợi những gương tốt của các nhà lãnh đạo đảng phái và cộng đồng. Quần chúng ủng hộ chính nghĩa.

(nguồn: nhật báo Việt Nam Tự Do  29/11/1995)

……………………………….

Nhân ngàgiỗ đầnhà thơ NguyChí Thiện, lậlạchồng 
Masuoka : anh ng của những anh hùng.
Lời mở đầu : Bài viết này được trích ra từ nhật báo Việt Nam Tự Do phát hành tại San Jose Bắc Cali ngày 16-11-1995. Đây là buổi phỏng vấn giữa ký giả Đỗ Mùi và cố Đại Tá hồi hưu Noboru Masuoka, người đã đứng ra bảo lãnh cho nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đến được bến bờ tự do ngày 1-11-1995. Theo bài báo “ Noboru Masuoka, người cựu đại tá không quân hồi hưu Mỹ gốc Nhật này quả đã làm một việc phi thường. Ông tuy không cùng giòng giống Việt Nam, nhưng với tấm lòng cao cả thương người , đã cùng đứng chung một giàn với những tâm hồn bất khuất yêu chuộng tự do dân chủ và tiến bộ. Masuoka, đối với người Việt Nam, ông là anh hùng của những anh hùng, một ân nhân cũng như một người bạn chân tình” .
Cuộvậđộng cho nhà thơ NguyChí Thiệthành công là nhờ vào nhiệt tâm của người bảo trợ, nhờ vào dư luận của cả thế giới bấy giờ rúng động về tập thơ, tiếng nói của một người, chỉ vì đứng lên chống cái ác mà phải bị chôn vùi cả tuổi thanh xuân trong vòng lao lý, và cuối cùng cũng là nhờ vào thời điểm cái nôi Liên Sô đã sụp đổ, CSVN chới với, e ngại kẻ thù phương Bắc nên phải bắt tay vuốt ve Mỹ, cấp giấy xuất cảnh cho Nguyễn Chí Thiện hầu mong sau bang giao sẽ được vào WTO.
phỏng vấđã cho thấnhững nghi vấn vThiệthậThiệgiảlà đip viên CS nng, là ăn cắp thơ…..chỉ là trò đánh phá bỉ ốbẩthỉcủbọngườđầyánh lạđược đikhiển bởi mụ nhà báo bất lương, luôn vỗ ngực tự xưng là chống cộng nhưng lại hành xử của một kẻ đâm thuê chém mướn làm lợi cho NQ 36 gây chia rẽ cộng đồng !
Cali tháng Mười 2013
Nhóm Thân Hữu Nguyễn Chí Thiện
Masuoka : anh ng của những anh hùng
LTS: 27 năm ngụ, hơn nửđờngười kể cả những năm tháng tuổi thanh xuân vùi chôn trong chốn lao tù, Nguyễn Chí Thiện một thanh niên đầy nhựa sống của thời Nhân Văn Giai Phẩm năm nào (*) đã bị đày ải triền miên trong chốn lao tù Cộng Sản Hà Nội kể cả nhà giam Hoả Lò ô danh thế giới, cũng chỉ vì bất đồng chính kiển và không chịu khuất phục trước bạo quyền bạo lực. Rung động trước tâm hồn quả cảm và bất khuất này, cựu không quân Noboru Masuoka, một người Mỹ gốc Nhật đã từng đưa người hùng nhảy dù Bùi Quyền sang Hoa Kỳ hồi năm 1990 và anh hùng không quân Nguyễn Quí An đến Mỹ năm 1992, một lần nữa Masuoka với tấm lòng cao cả thương người đã thành công trong việc vận động Hoa Thịnh Đốn áp lực buộc Hà Nội để cho nhà thơ Nguyến Chí Thiện đến được bến bờ tự do, tiếp tục các hoạt động chống tội ác của nhà thơ hầu tái lập một nền công lý đích thực cho quê hương Việt nam.
Sau đây xin mờquí vị theo cuộc tiếcủTruyềnh Việt Nam Tự Do cùng đại Tá hồi hưu Noboru Masuoka.
………………………
Đỗ (MĐ) : Đạtá Masuoka, m ơn ông đã đến với chúng tôi, xin ông cho biết động cơ nào đã khiến ông đem ông Nguyễn Chi Thiện ra khỏi Việt Nam?
Noboru Masuoka (NM) : Sau khi tôi mang ông Quyền ra, cô có đề cậđếmột văn sĩ người Vit Nam đã bị nhốtù nhiu năm bởvì những gì mà ông y viết gửi ra ngoài Việt Nam. Vào lúc đó tôi đang cố gắng đem ông Nguyễn Quí An ra khỏi VN. Sau khi tôi đưa ông Nguyễn Quí An đi được, tôi khởi sự tìm hiểu xem ông Nguyễn Chí Thiện là ai, bởi vì tôi không biết ông ta là ai, và sau đó khi tôi nói chuyện với một số người , tôi khám phá ra ông ấy là một người rất đáng nể. Do đó tôi khởi sự lo cho trường hợp của ông ta.
MĐ Ông đã phảgì trong tấcả ditiếđó?
NM Việđầu tiên là tôi phảbiết xem phương cách mà tôi phải làm để mang một người như vậy đi, bởi vì ông ta khác với những người trước đây. Những người khác mà chúng tôi đã lo liệu là những quân nhân đã phục vụ trong quân đội Nam VN. Còn đây là một người không phải quân nhân, sống ở miền Bắc VN. Tôi có thể nhìn thấy một sổ khó khăn trong việc xin chiếu khán xuẩt cảnh ra khỏi VN. Đồng thời tôi cũng phải bảo đảm là bộ ngoại giao Hoa Kỳ đồng ý cho ông ta đến Mỹ như một người tị nạn.
Tôi đã đi Hoa Thịnh Đốtháng 7 năm ngoái (1994). Tôi i chuyn với ông James Hall, ông ta chưa đi VN, ông ta là phụ tá giám đốc của văn phòng đại diện HK tai VN. Và tôi cũng nói chuyện với bác sĩ Stern và một vài người khác, và tất cả những người đó đều biết ông Nguyễn Chí Thiện.
Tôi biết tôi phảmộgì đóvớmột phương ch đó để mang ông ta rakhỏi VN. Việđầu tiên là tôi phảtiếc với ai đó trong chính phủ Hà Nội để biết xem ông Nguyễn Chí Thiện có thể đến Mỹ với lý do nhân đạo , hoặc chữa bệnh hay không? Do đó tôi viết thơ cho Lê Văn Bằng, lúc đó là đại sứ tại Hoa Thịnh Đốn, cho biết tôi muốn người này được đến Mỹ để chữa bệnh với mục tiêu nhân đạo. Tôi thỉnh nguyện ông ta vào khi đó và đó là điều mà tôi khởi sự.
MĐ : Toàn thể diễtrình mất bao lâu?
NM Khoảng một năm rưỡi.
MĐ : Khoảng thời gian đó có bằng vớthời gian mà ông giúp đưa ông i Quyvà NguyễQuí An ra khỏViệt Nam?
NM : Thưa không, có những khác biệt, nó tuỳ thuộc vào hoàn cảnh của nội vụ. Trường hợp ông Bùi Quyền, tôi đi ra khỏi VN vào năm 1990, tôi phỏng vấn ông ta và biết được ông ta là một sĩ quan VN được nhiều huân chương của chính phủ Hoa Kỳ và tôi đưa ông ta ra trong vòng một năm sau, 1991, để ông ta có thể tham dự lễ tốt nghiệp của con trai ông ta tại trường sĩ quan không quân vào tháng 5 – 1991. Khi đỏ TT Bush trao tặng lại những huân chương của Hoa Kỳ mà ông ta đã được trao trước đây và đó là trường hợp của ông ta. Trường hợp của Nguyễn Quí An thì khó hơn nhiều bởi vì ông ta không hội đủ điều kiện để được đi như một người tị nạn theo chương trình ODP.
MĐ : Trong suốt ditrình ông đã gặnhững khó khăn ?
NM : Trong trường hợp Nguyễn Chí Thiện , khó khăn duy nhất tôi gặp phải mà tôi được biết là cơ quan ODP sẵn sàng phỏng vấn ông ta bởi vì ông ta đã ở trong tù cải tạo lâu năm nhưng vẫn không nhận được chiếu khán xuất cảnh.Do vậy, một lần nữa, tôi viết thư cho ông Lê Văn Bằng thỉnh cầu giải thích là người này cần phải được cấp giấy xuất cảnh, và liền sau đó ông ta được giấy xuất cảnh.
MĐ : Trước đây ông có đề cậlà ông cố gng đưa ông NguyChí Thiện ra vì lý do chữa bệnh và với qui chế nhân đạo, do vậy ông ta phải tự túc tài chính một khi đến Mỹ. Ai đã điền giấy tờ bảo lãnh cho ông Thiện?
NM : Người anh của ông ta sống ở Herdon, Virginia. Ông ấy nộp mẫu đơn I-130 cùng với thệ chứng thư bảo trợ.
ĐM : Trong suốt diếtrình ông đã không gặkhó khăn gì vớcả hai phíHà Nộvà cơ quan ODP?
NM : Tôi rất may mđốvớchính phủ Hoa Kỳ. Tôi tiếc với những nhân viên Toà Bạch Ốc mà tôi biết và khi đó tôi được cho biết một viên chức của Bộ Ngoại Giao đang trên đường đến Bangkok. Viên chức này phụ trách khu vực Đông Á và chương trình tị nạn. Do đó nhân viên Toà Bạch Ốc yêu cầu người đó nói chuyện với giám đốc cơ quan ODP để nhanh chóng mang Nguyễn Chí Thiện đi. Việc đó tạo áp lực đối với giám đốc ODP, đồng thời khi đó tôi cũng nhận được điện thoại từ bộ ngoại giao yêu cầu tôi đừng đi Việt Nam và rằng họ sẽ giải quyết vấn đề. Tôi nói được, tôi sẽ ở nhà.
MĐ : Tại sao?
NM : Tôi muốn sang bên đó vàtháng 7 nhưng c viên chức của Bộ Ngoại Giao nói lần này họ sẽ lo để mang ông ta ra ngoài nước. Vì thế…, với áp lực từ Bộ Ngoại Giao Hoa Thịnh Đốn, mà viên giám đốc ODP làm việc cho Bộ Ngoại Giao, điều đó tạo áp lực với bà ta để làm một cái gì đó.
MĐ : Trong nổ lực để mang ông NguyễChí Thiện ra khỏViệt Nam, ông có nhậmột sự trợ giúp hoặc khuyến khích nào từ bất cứ một đoàn thể, tổ chức hoặc cá nhân Việt Nam nào không?
NM : Tôi có nóchuyện với một số người Việt Nam tại Hoa Kỳ, và họ đều ca ngợi ông ta. Tất cả những người đó đều khuyến khích tôi giúp ông ta.Nhưng tôi đã không được ai cho biết làm cách nào để mang ông ta ra khỏi nước.Tất cả họ chỉ nói cho tôi biết ông ta là một học giả đại tài và đó là một điều rất tốt nếu tôi đưa ông ta đi.Tôi có nói chuyện với cả những người của tổ chức bảo vệ nhân quyền tại Hoa Thịnh Đốn, họ cũng khuyến khích tôi thế nhưng họ không thể làm được gì cả. Còn những người Viêt Nam tại địa phương…tôi nghĩ họ có quá nhiều sĩ diện để viết thư cho Lê Văn Bằng thỉnh nguyện cho trường hợp của Nguyễn Chí Thiện.
MĐ : Ông đã nói chuyn với ai trong cộng đồng Việt Nam?
NM : Thưa không may là tôi gặp trở ngại về tên tuổi của người Việt Nam và tôi đã nói chuyện với rất nhiều người nên tôi cần phải nhớ lại đã.
MĐ : những hộđoàng như những tổ chứthì sao? Mà ông có tiếc?
NM : Thưa không.
MĐ : Cho đến nay ông là người duy nhất có gan, có khả năng và quan trọng nhất là hết lòng can thiệp để nhận diện những anh hùng chiến tranh VN đã bị bỏ quên bởi phe đồng minh và bởi ngay cả những đồng đội của mình, trong số đó có ông Bùi Quyền, Nguyễn Quí An, và hiện nay ông đang giúp ông Nguyễn chí Thiện, một người hùng của nhiều người Việt Nam và những người khác. Trớ trêu thay không có ai trong cộng đồng VN có khả năng hoặc ý chí để làm những gì ông đã và đang làm. Ông có ý kiến gì về vấn đề này?
NM : Thưa tôi làm điều này chỉ để thoả lòng tôi thôi. Đó là một điều rất hữu ích để giúp đỡ người khác, dù là người Việt hay không, đó không phải là lý do tại sao. Tôi chỉ nghĩ là nếu tôi giúp được một người nào đó đáng nhận hưởng sự giúp đỡ của tôi thì tôi giúp họ và tôi nghĩ những người này không nhất thiết vì họ là người VN. Những người này đã làm được việc gì đó và họ cần giúp đỡ mà tôi có thể trợ giúp họ được thì tôi cố gắng giúp họ. Đó là lý do duy nhất mà tôi giúp những người này. Bùi Quyền và Nguyễn Quí An là những người được biết đến nhưng cũng còn những người khác mà tôi đã giúp đưa ra khỏi VN.
MĐ : Không phải ai ng có thể làm những gì ông đã làm hoặc sẽ làm trong tương lai, vậy ông phải ở trong một vị thế đặc biệt để làm những điều đó. Ông làm cảch nào và cần phải làm gì?
NM : Cầphảviết thư. Để thiết đặt một phương cách, bạn cần phải biết đúng người, một số người nào đó để tiếp xúc. Một số người không ở đúng vị thế, bạn phải biết tìm đúng những cơ quan mà ông ta phải tới để có được sự lưu tâm, để làm được điều gì đó. Do đo tôi phải tìm biết tiếp xúc với những ai ngay trong chính quyền của chúng ta để rồi những người đó tiếp xúc với ai đó của nhà cầm quyền Hà Nội, để cho tôi sự trợ giúp đó. Và tôi phải khai điền tốt về những người này, nói cách khác tại sao chúng ta phải giúp đưa họ ra khỏi VN.
MĐ Ai đã là tàtrợ cho tấcả hoặmộphầnhững tổphí của ông? Những chi tiêucủa ông ?
NM : Cho đến nay tôi đã phảtự trả cho tấcản về vấđề gây quỹ thì khi họ đếnđây sẽ đượthực hin bởi cộng đồng người Việt. Đề nghị trợ giúp duy nhất mà tôi nhận được là từ chính cô, đề nghị trả tiền di chuyển máy bay đi VN để phỏng vấn ông Nguyễn Chí Thiện. Thế nhưng liền sau khi tôi nhận được điện thoại của Bộ Ngoại Giao cho biết họ sẽ lo liệu tất cả.
MĐ : Ông đã tốn bao nhiêu tiềđể giúp cho những người này, ông Bùi Quyền, Nguyễn Quí An , và bây giờ Nguyễn Chí Thiện, và những tổn phí liên hệ khác?
NM : Thưa tôi rất là dở trong việc tính toán chi tiêu, tôi không biết rõ và việc đi qua VN cùng liên hệ đến những việc làm khác của tôi như là một du khách. Tôi chưa bao giờ sang VN cho đến năm 1990 khi tôi phỏng vấn ông Bùi Quyền. Vì thế nên tôi không hề tìm biết xem là tôi đã tiêu xài bao nhiêu tiền để giúp những người này .
MĐ : Có ngườhoặnhóo trong cộng đồng VN đóng p tin chia xẻ với ông, hoặc bất cứ điều gì?
NM : Không, và tôi ng không đòhỏbấcứ đi.Tôi biếcộng đồng VN nhiu phe nhókhác nhau và tôi không muốnh ng vấđề chính trị củahọVì thế tôi muốđứng ngoàvà không mưu những sự trợ giúcủhọ.
MĐ : Một khi ông Thiđếđây, ông nghĩ tương lai của ông ta sẽ như thế nào? Ôngcó thể tiên đoán tương lai của ông Thin?
NM : Tôi nghĩ ông ta là một thi , văn sĩ đại. Tôi nghĩ ông ta có cơ hội đi du thuyết. Và tôi biết ông ta ínhiềtiếng Anh và tiếng Pháp, vì thế những người như ông Douglas Pike của đại học University of California có thể giúp ông ta tổ chức một cuộc du thuyết và những tổ chức khác có thể giúp ông ta để ông ta có thể tiếp tục viết và việc phát hành văn phẩm sẽ giúp ông ta sinh sống bằng cách đó.
MĐ : Ông có sẽ tiếtụgiúđỡ một khi ông Thiđếđây?
NM : Hiện nay tôi sẽ giúp ông ta những gì ông ta cần. Tôi đã viết thư cho giám đốc cơ quan ODP và cho biết tôi sẽ giúp ông Thiện trang trải tiền máy bay và trợ giúp tài chánh để đoan chắc là ông ta đến được đây. Thệ chứng thư trợ giúp tài chính cần phải có, đồng thời người anh cũng đã điền thệ chứng thư trợ giúp tài chính trả tiền cho vé máy bay , do đó đã không tốn gì cho tôi cả về phương diện tài trợ cho ông Thiện. Có rất nhiều người Việt ở Mỹ tổ chức những chương trình khác nhau cho ông ta, vì ông ta là một học giả rất nổi tiếng. Vào thời điểm đó, ông Thiện sẽ tự quyết định lấy điều gì ông ta thích làm.
MĐ : Sau NguyChí Thiện ông có ý định giúp ai khác ra khỏi VN không?
NM : Tôi không được ai hỏi…Tôi đã đến giai đoạng không trẻ gì nữvà cũng có giớhạn. Nếu tôi biếcó người nào đó cần giúp đỡ thì tôi sẽ giúp họ . Nhưng đó phải là một trường hợp tốt và khó khăn mà tôi có thể làm được gì đó thì tôi có thể sẽ giúp người đó.
MĐ : n hai ông NguyĐan Quế và Đoàn ViếHoạmà ông được nghe i, họ đã bị bỏ tù bởnhà cầm quyn VN vì tranh đấu cho nhân quytại VN mộch bấbạođộng. Ông có thể giúp những người này không?
NM : Thưa điều này đối với tôi, tôi không biết cá nhân hai người này, tôi phải coi xét các trường hợp đó. Và nếu họ cần giúp đỡ vì một lý do gì đó. Tại sao Hà Nội không để cho họ đi? Tại sao họ bị nhốt tù? Tôi phải xem xét lại các trường hợp này.
MĐ : Tôi chắlà đốvớnhững ngườmà ông đã giúđỡ cũng như với thân nhân củahọ thì ông rấlà tốt. Ông rấlà có lòng vớhọ. Tôi ng chắc ông đã làrất nhiu chocộng đồng VN.
NM : Thưa tôi thực sự coi những người này như những cá nhân riêng biệt, thực sự tôi nghĩ là tôi đã giúp những cá nhân, đó là điều mà tôi quan niệm. Đối với cộng đồng người Việt, tôi biết họ biết ơn những việc tôi làm nhưng tôi chỉ nhìn nhiều đến khía cạnh giúp đỡ cá nhân hơn là bất kỳ điều gì khác.
MĐ : Và điđó rấlà bổ ích cho ông?
NM Đó là đibổ ích cá nhân. Đời tôi đã có những c thăng trầm, và bên Mỹ nàyđời không phảng tươi như hoa hồng cho ngườMỹ gốÁ Châu thập niên 30 và qua thập niên 40, và đặc bit trong giai đoạn Đệ Nhị Thế Chiến. Có lúc tôing bị bỏ vào trong trại bởi vì cha mẹ tôi đến từ Nhật Bản. Nhưng dĩ nhiên tôi cũng đã động viên vào lục quân, do vậy tôi thương những người này. Họ không biết phải làm gì trong hoàn cảnh tiến thối lưỡng nan. Do vậy ở thời điểm này , tôi chỉ cảm thấy tôi có thể làm được gì đó để giúp đỡ ai đó.Tôi nghĩ luôn luôn có những lời nhắn gửi gấm qua những việc làm từ thiện giúp đỡ người khác.
MĐ : Xin m ơn ông rất nhivà chúc ông thành công trong mọcố gng của ông trong tương lai.
NM : ơn cô.
…………………………….
*NguyễChí Thiện chưa bao giờ tuyên bố ông thuộc nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, mà đó chỉ là tin do những người khác viết ra.
……………………………….
Nhàn SF Góp Ý Với Bác Sĩ Phùng Văn Hạnh
Tôi là Nhàn S.F ở miền Bắc Cali, nhân đọc được bài viết “Bàn Luận” của bác sĩ trên diễn đàn, tôi mạo muội đóng góp ý kiến. Thú thật trình độ học vấn của tôi hạn hẹp lắm, chỉ đủ đọc và hiểu tiếng mẹ đẻ nên không thể nào hiểu được bài viết của các danh nhân danh tướng văn nhân thi sĩ triết gia để biết được họ sai đúng chỗ nào như bác sĩ đã từng làm. Cũng may bác sĩ là người trí thức có địa vị cao trong xã hội lại biết yêu chuộng tự do qua phương cách bàn luận để tìm ra sự thật. Vì lẽ đó tôi mới mạnh dạn góp ý nói lên quan điểm của mình về những nhận định của bác sĩ qua hai điểm sau đây:
Thứ nhất là đoạn văn mà bác sĩ Phùng Văn Hạnh trích dẫn từ bài viết của luật sư Nguyển Văn Chức
Năm 1999, tôi gặp Matsuoko, một đại tá Mỹ tại nhà bà vợ của
Nguyễn Cao Kỳ, đường Belle Vue , tiểu bang Colorado.
Matsuoko đãi tôi đại tiệc .Ruơụ Pháp đầy bàn . Và tội đáp
lễ; đãi tiệc Matsuoko, tại nhà môt ng
ười bạn thân của vợ..
tôi.
Trong lúc ngà ngà say, Matsuoko cho tôi biết:chính ông đã về Việt
Nam đưa những Nguyễn Chí Thiện và Nguyễn Hữu Luyện sang Mỹ !
Để làm gì ? Quyển ” Bạn Có Thể Tin Đuơc Người Cộng Sàn của
Fred Schwarz ” đã cho chúng ta câu trả lời …
Để làm tay sai cho Cộng Sản VN  , lũng đoạn tập thể Nguời
Việt Tỵ Nạn, bằng những thủ đoạn cực kỳ bỉ ổi và đê
hèn..
Cũng Fred Schwardz hình nh
ư đã viết :
Cộng sản VN  lừa bịp và 
đểu cáng . Lỗi cũa những người
VNHG chống Cộng , là đã ngây th
ơ : giúp chúng nó đểu cáng và
lưà bịp”
(hết trích)
Trích đoạn văn trên đây mà không đưa ra ý kiến gì tức là bác sĩ Phùng Văn Hạnh đã mặc nhiên đồng ý với luật sư Chức rồi phải không?
Người bảo lãnh cho nhà thơ Nguyễn Chí Thiện qua Mỹ là đại tá không quân hồi hưu Noboru Masuoka chứ không phải Matsuoko. Cái tên Matsuoko đã có lần xuất hiện trong một bài viết của một người thuộc nhóm chống đối nhà thơ Nguyễn chí Thiện, nay thì hoá ra nguồn của nó từ Ls Nguyễn Văn Chức. Với một người ngoại quốc tiệc tùng qua lại rượu Pháp đầy bàn mà Ls Chức lại không nhớ rõ tên người ta để viết cho đúng quả là điều đáng trách!
Chuyện bảo lãnh cho nhà thơ Nguyễn Chí Thiện qua Mỹ thì đâu có gì bí mật mà phải đợi đền năm 1999 vào lúc “ngà ngà say”, không tỉnh táo mới bật mí? Ls Chức hay quan trọng hóa vấn đề chứ ở San Jose, miền Bắc Cali, khi ông Nguyễn Chí Thiện mới qua(1/11/1995) , ông Masuoka đã xuất hiện hàng ngày trên báo chí, đài truyền hình tường trình về những việc ông làm cho các tù nhân chính trị. Trả lời câu hỏi động cơ nào đã khiến ông mang nhà thơ Nguyễn Chí Thiện ra khỏi Việt Nam, ông cho cô Đỗ Mùi, phóng viên của đài Truyền Hình Việt Nam Tự Do San Jose biết như sau:
Nguồn: Việt Nam Tự Do (16-11-1995)
“ Sau khi tôi mang ông Bùi Quyền ra(1990), cô có đề cập đến một thi sĩ người Việt Nam đã bị nhốt tù nhiểu năm bởi vì những gì ông ta viết gửi ra ngoài VN. Vào lúc đó tôi đang cố gắng đem ông Nguyễn Quí An ra khỏi VN. Sau khi tôi đưa ông Nguyễn Quí An đi được rồi, tôi khởi sự tìm xem ông Nguyễn Chí Thiện là ai, bởi vì tôi không biết ông ta là ai, và sau khi tôi nói chuyện với một số người, tôi khám phá ra ông ấy là một người rất đáng nể. Do đó tôi khởi sự lo cho trường hợp của ông ta ”
.(ghi chú: Đỗ Mùi là người đã nhờ Masuoka bảo lãnh cho N.C.T )
Nguồn: Two Prison Life Stories
Ngày 15-12-1995 một buổi tiệc được tổ chức tại nhà hàng Phú Lâm San Jose để vinh danh ông Masuoka đồng thời chào mừng nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đến Hoa Kỳ với sự tham dự của hai Ông Bùi Quyền và Nguyễn Quí An. Tại sao ông Nguyễn Hữu Luyện không có mặt hôm đó? bởi ông Masuoka đâu có bao giờ bảo lãnh cho ông Luyện! Ông Nguyễn Hữu Luyện đi theo diện Biệt Kích thì đâu có trở ngại khó khăn gì mà phải nhờ đến sự can thiệp của ông Masuoka? Luật sư Chức có tỉnh táo hay cũng “ngà ngà say” như ông “Matsuoko”?
Khi ông Nguyễn chí Thiện đến Houston (1996), qua báo chí người ta biết được Ls Chức đọc một bài diễn văn chào mừng rất là chân tình cảm phục và sau đó cùng đứng bên nhau chung một giới tuyến trên con đường quang phục quê hương. Chẳng lẽ chỉ vì những lời “thú tội” trong lúc “ngà ngà say” của ông “Matsuoko” vào năm 1999 mà nhà thơ Nguyễn Chí Thiện qua ngòi bút của Ls Chức, bỗng trờ thành “tay sai cộng sàn” lũng đoạn cộng đồng bằng những thủ đoạn cực kỳ “bỉ ổi “và “. đê hèn” ?. Và hành động nhân đạo của một người ngoại quốc trước sự tàn bạo của CSVN đối với tù nhân bỗng biến thành công tác của một “điệp viên không không thấy” qua não bộ của một con người bất bình thường như Ls Nguyễn Văn Chức ? Qua gần 14 năm đi khắp nơi trên thế giới nói lên tội ác của CSVN thì đó là “lừa bịp” là ”lũng đoạn tập thể người Việt hay sao?. Viết thế mà cũng có người tin thì lạ thật, nhất là với một người đã từng đặt bút phê bình các văn nhân danh tướng,các thi sĩ triết gia lớn trên thế giới như bác sĩ Phùng Văn Hạnh!!!
Thứ hai là nhận định của bác sĩ Phùng Văn Hạnh qua bốn câu thơ của Nguyễn Chí Thiện
Bác sĩ Hạnh viết nguyên văn như sau:
“ Bàn luận không phải là chửi rủa.
Tôi có biết nhiều danh nhân,danh t
ướng cũng như văn nhân, thi
sĩ, triết gia lớn qua sách vở. Và cũng có bình luận họ khi làm
bài vở ở tr
ường và cả khi ra đời, chỗ nào đúng, chỗ nào
sai, chỗ nào hay,chỗ nào dở, qua suy luận của mình. Tôi không
suy tôn ai cả. Đi tìm sự thật một cách độc lập là ph
ương
châm của người trí thức. Tôi trọng tự do Quí vị  suy tôn,
kính phục NCT. Hãy cho tôi tự do phê phán một nhân vật công
cọng (public figure). Cho nên nói tôi ghen tài với ông Thiện là suy
nghĩ nô lệ . Thi sĩ  Landor viết: I strove with none, so none is worth
of my strife.
Chính vì vậy mà 4 câu th
ơ dưới đây tôi cho là dở thậm tệ, ý
tưởng kiêu căn phách lối. Mắc mớ gì mà giận dân, nghĩa là
giận dư luận công cộng? Dư luận làm sao có hạn được. 9
người 10 ý mà! Dư luận làm cho anh chán nản, rồi anh phán là
dân hèn ngu! Dân dạy anh chứ không hèn ngu 
đâu. Chỉ Cộng Sản
mới cho dân la hèn ngu
Với Cộng Sản, ta suốt đời là thù
Với dân, dẫu giận, ta suốt đời là bạn
Nh
ưng mọi thứ trên đời đều có hạn
 Đừng làm ta chán nản, hỡi hèn ngu !”
(Ngưng trích)
Ngoài 4 câu thơ trên nhà thơ Nguyễn Chí Thiện còn một số bài than phiền về sự hèn ngu của những dân tộc sống dưới ách cộng sản:
“Ngu dốt làm buồn nản
Đớn hèn làm tức tối
Hai thứ xoay quanh mù loà, qụy gối
Suốt đời làm tôi tớ yêu gian!”
Không những giận người ngu hèn mà ông còn giận chính bản thân mình:
Giận thân rồi lại giận đời
Giận thời chuyên chính, giận người hèn ngu
Giận trời, giận đất âm u
Giận sông, giận núi quân thù dọc ngang”
Khi mất miền Nam ông còn nói:
“Vì ấu trĩ thờ ơ u tối
Vì muốn an thân vì tiếc máu xương
Cả nước đã qui về một mối:
Một mối hận thù, một mối đau thương!”
Để cộng sản có thể thống trị được cả nước, ông qui trách nhiệm cho cả dân tộc:
“Lỗi lầm tại ai? Xét ra tất cả
Mấy ai người đem hết tâm can?”
(Vì Ấu Trĩ – 1975)
Nhà văn Nguyễn Tuân trước khi chết đã thú nhận:” Tôi sống được đến ngày hôm nay là vì tôi biết sợ”
Nhạc sĩ Phạm Tuyên, con học giả Phạm Quỳnh, suốt đời làm nhạc ca ngợi “Bác”, Đảng là những kẻ đã thủ tiêu cha đẻ của mình. Ông đã vỗ tay qua bài hát “Như Có Bác Hồ Trong Ngày Vui Đại Thắng” để ăn mừng ngày cộng sản chiếm được miền Nam.
Gần đây, nhạc sĩ Tô Hải, tác giả bản nhạc “Nụ Cười Sơn Cước”, trong quyển” Hồi Ký Của Một Thằng Hèn” đã dũng cảm nhận mình là thằng ngu và khẳng định “tuyệt đại đa số trí thức đều hèn ngu,” điều mà hơn 40 năm trước đây trong nhà tù cộng sản, người thanh niên dũng cảm Nguyễn Chí Thiện đã nói như vậy.
Thưa bác sĩ Phùng văn Hạnh,
Qua những vần thơ trên tôi hiểu chữ DÂN được đề cập trong thơ Nguyễn Chí Thiện là muốn nói tới DÂN TRÍ và DÂN KHí, chứ không thể hiểu là DƯ LUẬN CỦA DÂN được. Thêm nữa, những chi tiết đề cập đến trong bài thơ do bác sĩ sáng tác tôi thấy có điều cần minh chứng. Chẳng hạn :
Khi Thiện kể lại những điều lạ sao!
> Nào ăn uống tiêu chuẩn cao
> Nào được chữa trị khi vào nhà thương
> Như một đảng ủy trung ương
> Chống Cộng lấy lệ, lập trường “hiền huynh”
> Khuyên hải ngoại 
đừng biểu tình
> Ý hòa giải với yêu tinh “đồng lầy”
Thưa bác sĩ Phùng văn Hạnh,
Tôi chưa bao giờ nghe ông Nguyễn Chí Thiện khuyên “đừng đi biểu tình” vì bản thân ông đã có mặt hầu hết trong các cuộc biểu tình ở Bắc Cali.và ông thường cho biết “ Biểu tình không thì chưa đủ, song song vào đó là phải có tiếp xúc giải bày thì mới thành công Điển hình là cuộc biểu tình chống nhà đạo diễn phản chiến Peter Davis. Năm 2005, cuộc triễn lãm “What’s Going on” tại viện bảo tàng Oakland Bắc cali do phản chiến tỗ chức với nội dung lên án Hoa Kỳ đã sai lầm ủng hộ cuộc chiến Việt Nam.Trong đó cuốn phim “Hearts And Minds” được giải thưởng Oscar ngày 8-4-1975, nội dung xuyên tạc sự thật, lên án QLVNCH, cho rằng toàn thể dân Việt Nam ủng hộ cộng sản Bắc Việt. Nay những xuyên tạc láo khoét đó lại được phổ biến dưới dạng DVD để phân phát cho giới trẻ. Giáo sư sử địa Jean Libby cùng nhà thơ Nguyễn Chí Thiện tổ chức một cuộc biểu tình chống đối vào ngày Peter Davis thuyết trình. Với chủ trương như đã nói, cộng đồng Bắc Cali biểu tình bên ngoài, nhà thơ và một số gồm nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh, đạo diễn Hàm Trần (Vượt Sóng), nhà văn Đỗ Quang Trình ( Saigon To San diego)cùng anh chị em sinh viên thì vào bên trong. Mỗi người chỉ được đặt câu hỏi trong 2 phút. Nguyễn Chí Thiện là người lên đầu tiên, qua 5 phút đầu ông không hỏi mà chỉ kể tội ác CS qua CCRĐ, Mậu Thân, bỏ tù không xét xử (tập trung cải tạo), đánh tư sản, cướp nhà cướp đất của dân…và cuối cùng đặt câu hỏi với Peter Davis: “Cho đến bây giờ mà ông vẫn còn tin CSVN hay sao?” Phần thì bên ngoài tiếng hô đả đảo vang dội, phần thì bên trong bị kê tủ đứng vào mồm, Peter Davis mất bình tĩnh ấp úng cho là chỉ lên án Hoa kỳ.Dĩ nhiên chúng ta không thể nào “ tẩy não” được nhà đạo diễn phản chiến này nhưng thành phần đông đảo tham dự sẽ hiểu được sự thật về cuộc chiến Việt Nam thì đây có phải là một thành công hay không?
Thói thường khi muốn đánh phá ai, kẻ gian hay đặt điều vu khống, sửa đổi lời nói,cắt xén đoạn văn làm mọi cách để người đọc hiểu xấu về người đó. Chuyện Vũ Bình Nghi tự Ký Còm chủ một tờ báo ở Bắc Cali, người chuyên viết bài đánh phá cá nhân đoàn thể chống cộng, đã xuyên tạc vu khống về lời phát biểu của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện là đã đưa ra đề nghị người Việt Nam theo đạo công giáo nếu không ủng hộ cuộc đấu tranh của Cha Lý, hãy đuổi họ ra khỏi đạo”Và ngay sau đó là cò mồi của chúng viết bài tự xưng là công giáo lên án nhà thơ Nguyễn Chí Thiện. Bị cộng đồng và cả Nguyễn Chí Thiện phản đối, Ký Còm giải thíchthực tình Ký Còm không có tham dự buổi ra mắt sách của ngục sĩ…,Ký cũng không nghe cuốn băng ghi âm…, mà chỉ nghe từ ba thân hữu kể lại(TB #3111 ngày25 và 26-8-01).Người làm báo chân chính có bao giờ chỉ vin vào lời của các “thân hữu” để viết tin hay không? Giữa thanh thiên bạch nhật mà còn dám dùng tờ báo của mình để dở trò bôi nhọ thì nói gì đến trên các diễn đàn ảo?
Riêng với bác sĩ Phùng văn Hạnh, một nhà trí thức, chuyên nghiên cứu phê bình các danh nhân danh tướng, văn nhân thi sĩ triết gia trên thế giới mà lại quá dễ dãi với những bản tin lấy từ các diễn đàn để đánh giá về nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, điều này chỉ làm mất giá trị bài viết của mình thôi!!!
Kết thúc nơi đây,khuyên bác sĩ hãy đem sở trường của mình ra để nghiên cứu đứng đắn những cuốn sách nói về chiến tranh VN do phản chiến Mỹ viết ra hơn là bỏ thì giờ vào những tin tức lá cải gây xáo trộn cộng đồng
Bắc Cali 8-o9
Nhàn SF
Nhân bác sĩ Hạnh nhắc đến Đào Nương Hoàng Dược Thảo:
> Dược Thảo vì tự do ngôn luận
> Nêu lên một nghi án v
ăn chương
> Cớ sao giở giọng c
ương cường
> Dùng chữ “trừng trị” như phường Cộng nô”
Xin đưa lên bài viết của đương sự để hiểu vì đâu mà lại có cái gọi là “Nghi Án Văn Học”?
………………………………………………..
Sức Mạnh Của Dollar?  
Mười lăm năm trước một bên ngỏ
Tại Paris bàn chuyện nhỏ to
SGGP Saigon Nhỏ
Làm người đọc cũng phải đoán mò
Một triệu đô đăng tin cán chó
Phải lấy bài cộng sản ban cho
Nghèo kiết xác, tài chánh phải lo
Kẻ giàu có thể đã đang o
O Hoàng Dược Thảo thành giàu có
Chủ tuần báo bắt đầu sừng sỏ
Đánh xả láng, dựng tin méo mó
Hoà Thượng Quảng Độ bị bôi lọ
Ngài là tấm gương chống tội đỏ
Tranh đấu cho tôn giáo tự do
Thế nhưng Saigon Nhỏ bôi xóa
Nghi ngờ Nguyễn Chí Thiện này nọ
Cắp thơ của tác giả “chưa có”
Thật hư đã bao lần sáng tỏ
Hoàng Dược Thảo vẫn mãi cãi cọ
Nay Thảo hợp với Nhâm cùng bó
Thiên hạ coi như là chuyện nhỏ
Đọc báo xưa nên phải dặn dò
Đồng tiền có sức mạnh dản co
Chống đó nhưng mà theo đó!
Những Giải Mây Chiều
8/09
………………………….
International Acclaim for The Flower of Hell

Nguyen Chi Thien does not plead for his own case. He has spoken up on behalf of all of his unfortunate compatriots who are being repressed in communist jails.
Paul Goma, Chairman, Writers in Exile PEN Center 

Nguyen Chi Thien’s verses shock the reader. They give expression to the daily terrors that as humans, we cannot accept as normal-in fact, it is unimaginable that they are still occurring to a part of mankind.
Pierre Kende, Editor, The Hungarian Anthology 

I have found in the verses of this Vietnamese poet echoes of so many stifled voices.
Eduardo Manet, Former Director, Cuban Theatrical Group

Nguyen Chi Thien is the first one to dare stand up against the lies and violence of the Vietnamese communist regime using the only weapon at his disposal, the Voice of Poetry and Literature.
 Vladimir Maximov, Editor of Kontinent

Reading these translations from Nguyen Chi Thien, I feel boundless sympathy with this poet, with his nation as well as the culture that is being destroyed in his land.
Leonid Plioutch, Ukrainian Mathematician and Writer 

Nguyen Chi Thien’s verses have amounted to a great and noble work, which not only made apparent his vast talent but also gave expression to the very concept of courage.
Alexander Smolar, Polish Economist and Member, French CNRS 

In Vietnam as in Poland, in Cuba as in North Korea, anywhere under totalitarianism one finds cultural repression. How can the letters defend themselves against violence, tanks and cannons?…It is clear, though, that literature can be dangerous, especially verses that bespeak the truth, or truths that the regime wishes to cover up, not wanting anyone to know.
Pavel Tigrid, Editor-in-Chief of Testimony 

 I hope that every member of Congress will have a copy of your book so they can realize what are the realities of Vietnam today.
Eni Faleomavaega, U.S. House of Representatives

 

Giỗ Một Năm Thi Sĩ Nguyễn Chí Thiện

hanh nct baloa island laguana beach may 19 12 106Nơi ông NCT định cư sau cùng, một khu phố khang trang tại Santa Ana, California

Đã gần tròn một năm kể từ ngày thi sĩ Nguyễn Chí Thiện ra đi vĩnh viễn. Sự ra đi đó luôn để lại trong lòng những người thương mến ông niềm dạt dào luyến tiếc. Những nhà văn, nhà thơ đã viết về ông không ít, nhưng hẳn còn nhiều người khác nữa không thể biểu lộ tâm tình của mình qua ngòi bút. Trong những giờ phút tưởng nhớ cố thí sĩ, những dòng chữ này không gì hơn là được cùng những trái tim đang hòa nhịp với hồn thơ nhà họ Nguyễn, và đặc biệt là những phụ nữ đã nhiều năm âm thầm giúp đỡ nhà thơ về mọi phương diện, nhất là trong những vấn đề liên quan tới cuộc sống hằng ngày.

Năm đó, 1993, một cuốn sách với tựa đề “Dương Thu Hương và Con Hùm Ngủ” hay “Yêu và Bị Yêu” ra đời. Ngoài việc đáng ghi nhận là trình bày bằng hình ảnh công hàm Phạm Văn Đồng ký gởi Chu Ân Lai ngày 14/9/1958 công nhận 12 hải lý thuộc về Trung Cộng, trong đó có hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tác giả Nguyễn Việt Nữ đã đề cập thơ Nguyễn Chí Thiện ngay những trang đầu trong phần “Thay Lời Tựa”. Điều này đã gây sự chú ý cho cá nhân tôi, bởi vì chúng tôi là phái nữ và cùng cảm nhận những dòng thơ sáng tác từ tù ngục này.

IMG_0035
Bìa sau cuốn sách Yêu và Bị Yêu

Nhiều bài viết Nguyễn Việt Nữ thường đem những dòng thơ rất thực và đầy nhiệt huyết của Nguyễn Chí Thiện để dẫn chứng về tình trạng Việt Nam dưới chế độ “xuống hàng chó ngựa.” Hai mươi năm trôi qua đó, tác giả vẫn giữ thái độ cảm phục ý chí sắt đá của nhà thơ có một không hai trong lịch sử cận đại, và nhan nhản những dòng thơ trong bài viết mà thời gian thể hiện một sự thật không thể chối cãi đang xảy ra tại xã hội cộng sản ngày nay: “Từ đêm cùng chập chùng chuyên chế; Văn minh nghệ thuật chồi sinh.”

Dĩ nhiên, Nguyễn Chí Thiện trong gần 17 năm sống ở nước ngoài, ông đã đi nhiều nơi trên thế giới để nói chuyện với vai trò diễn giả. Nói chung, nhiều hội đoàn, tổ chức, cá nhân rất trân quý nhà hùng biện có một lối nói thu hút người nghe. Ở đây chỉ nhằm đưa ra một vài khía cạnh để chứng minh sự quý mến đó, và đặc biệt là những người phụ nữ mà người viết biết được.

Khi những vần thơ tràn trề chất lửa trong“Tiếng Vọng Từ Đáy Vực” đã không còn là của một tác giả vô danh nào đó thì “Hoa Địa Ngục” khởi nguồn cho những làn sóng từ mọi nơi cuồn cuộn chảy theo thơ để mong có một ngày mà “Nếu nhân loại mọi người đều biết; Cộng sản là gì, tự nó sẽ tan đi.” Ai lại không muốn gặp mặt một con người trí thức, có khí phách, và một nhân cách được xem như khá toàn diện như vậy?

Tôi được biết ông từ tháng 11, 1995. Nhiều lần khi hoàn cảnh cho phép, chúng tôi, liên kết trong một nhóm nhỏ, giúp ông hay bất cứ khi nào cần thì ông liên lạc. Những công tác như đưa đón, đánh máy các bài viết, giúp về cách dùng computer, tạo điều kiện cho ông phát biểu trên Paltalk, mua sắm các đồ dùng trong nhà, v.v..Chắc chắn ông cũng được nhiều bàn tay khác trong cộng đồng để ý, chăm lo, nếu không ở gần thì quý vị đó cũng gọi điện thoại hỏi thăm.

Người viết không thể nào quên nhắc tới chị NhanSF. Chúng tôi đã nhiều lần tổ chức những buổi đi chơi đây đó để ông được giải khuây. Những bài viết rất sắc bén của NhanSF đã đập tan luận điệu xuyên tạc đánh phá nhà thơ của nhóm Vạn Thắng, Saigon Nhỏ và những cá nhân khác. Những món thức ăn ông thích được chính tay những chị trong cộng đồng nấu đưa ông mang về khi có dịp ra ngoài hội hợp. Chị N., chị Th. từ San Jose nấu xong nhờ người mang xuống Santa Ana cho ông ăn. Cô T. cũng từ Bắc California gởi các món đồ dùng bổ dưỡng. Chị A.L. và gia đình trực tiếp giúp ông rất nhiều chuyện cần thiết về cá nhân. Chị N. và chị K.A. mua sắm cho ông những món đồ hữu dụng trong nhà bếp và phòng ngủ. Chị X. cũng vậy, tuy rất bận rộn việc làm ăn, cùng người bạn trai là anh C. luôn thăm hỏi, chở ông đi ăn ở nhà hàng hay ra biển để thay đổi không khí.

Người đã từng ủng hộ và giúp về giấy tờ và kỹ thuật là chị T. Một người phụ nữ trí thức nữa rất thân trong nhiều năm sát cánh với nhà thơ trong việc vận động và phổ biến thơ bằng tiếng Anh là giáo sư Jean Libby.

Các chị ở xa như chị T. thì thường gọi thăm hỏi, có dịp về tiểu bang MA ông hay ghé nhà chị để nghỉ ngơi. Vợ chồng chị H. ở Úc Châu khoảng 6 năm trở lại đây rất thân với nhà thơ. Khoảng 3 năm liên tiếp hai vợ chồng bay qua California hay Nevada để cùng ông đi những nơi giải trí. Chị H. còn mua cho ông những trang phục đắc tiền (made in Italy) nhưng ông ít dùng. Ông hay mặc quần áo đơn giản, sau này chỉ mặc loại áo cổ mềm (dễ thở)…Có thể nói rằng ông vượt qua luôn sự bình dị trong cuộc sống bình thường.

Một sự giản dị tối đa của ông để rồi đi đến chỗ gây sự chú ý cho người khác, mà có lẽ chỉ giới phụ nữ mới để ý thôi. Trong lúc dọn dẹp phòng để trả lại cho chủ phố sau khi nhà thơ qua đời, anh H. thì chọn bộ quần áo ông mặc trong vài tháng sau cùng để làm kỷ vật, một anh khác lựa cái nón ông thường hay đội, còn anh nọ thích cái áo khoác, và người kia bốc ngay cái khăn choàng cổ, đôi giày….Nhưng có một chị cứ lủi thủi đi tìm hoài một món đồ mà chị muốn phải có khi nghĩ tới nhân vật nổi tiếng này. Đồ đạc ngổn ngang mà vật kia thì nhỏ mà cả tôi và chị biết rất rõ món đồ quý báu đó…Cuối cùng thì chúng tôi tìm ra được.

nct dam tang oct 6 12 013

Những dụng cụ về vệ sinh cá nhân để trong một cái bọc nhỏ, đi đâu NCT cũng mang theo (không cần khăn của hotel hay bất cứ  khăn nào khác). Những vật khác thì thay đổi theo thời gian, nhưng cái khăn luôn còn đó.

Một miếng khăn lau tay nhỏ, mỏng, chiều dài khoảng chưa đầy hai gang tay, chiều ngang khoảng hơn một gang tay. Khăn này ông đã giữ bên người rất nhiều năm (mang qua từ Việt Nam), đi đâu ông cũng mang nó theo, lau mình, lau mặt, lau tay cũng chỉ có nó. Không biết nguyên thủy miếng vải đó màu gì, nhưng với tháng ngày giặt giũ hình dạng đã đổi thay, giờ khăn đổi màu ngà pha chấm cùng những hàng chỉ thưa cộm. Có lẽ những ai đã từng mua tặng nhà thơ yêu quý những quần áo đẹp, những khăn lông mịn màng đang đánh dấu hỏi. Thưa rằng, dù vậy, những gì ai cho tặng ông, ông đều nhớ rõ, bởi vì ông là Nguyễn Chí Thiện!

Đôi khi ông cũng nhắc tới chị này chị kia ở các nơi, nhưng người viết không thể kể hết ra đây. Nếu cho rằng nhà thơ của chúng ta rất cô đơn như một bài viết nào đã diễn tả thì không hẳn đúng đâu. Ông sống đơn độc nhưng không cô đơn trong ý nghĩa chia sẻ những buồn vui trong cuộc sống cùng nhiều người yêu mến ông. Những gì còn triền miên ẩn chứa hiện trên nét mặt nói lên một niềm khắc khoải, một mơ ước ông còn mang canh cánh bên lòng. Nó lướt đi mọi chướng ngại trong cuộc đời, bởi vì bao nhiêu thử thách khổ đau ông còn vượt qua được trong 27 năm tù thì những lần đánh phá ông ở hài ngoại có chủ trương cũng chỉ là vài viên sỏi cản bước chân ông.

Vài dòng tâm sự nhất là gởi tặng tới tất cả các chị, các phu nhân của các ông nhân một năm ngày giỗ thi sĩ Nguyễn Chí Thiện. Những ai luôn còn thương mến ông, có lẽ nên ghi nhận những gì ông nhắn nhủ lại trong những giờ phút cuối của cuộc đời: đọc bài “Đồng Lầy”, đọc cuốn “Hỏa Lò” và nhiều bài thơ khác nữa mà ông cho rằng không cường điệu, không mỹ từ, mà “Nó thật như tù, như đói, như đau thương; Thơ của tôi chỉ để đám dân thường; Nhìn thấu suốt tim đen phường Quỷ Đỏ.”

www.nguyenchithien2012.wordpress.com
Di Hạnh
21/9/2013

Nhân 100 ngày, ngày mất của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện 
Friday, December 21, 2012 3:42:23 PM 
Người Việt


Thương tiếc một người đi

 Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã vĩnh viễn lìa xa chúng ta hôm Thứ Ba ngày 2 tháng 10, 2012 tại bệnh viện Western Medical Center Nam Cali lúc 7 giờ 17 phút sáng. Ông ra đi thật thanh thản bình yên, nhắn nhủ lời cuối cùng với bạn hữu bên cạnh “Be Happy!”

 

Di ảnh nhà thơ Nguyễn Chí Thiện tại tang lễ.

 Ông đã về với Chúa theo như ước nguyện, nơi đó sẽ an lành không còn trong ký ức những gông cùm xiềng xích, những vướng bận lo âu phiền muộn, những cơn đau như xé lồng ngực khi vết tích căn bệnh cũ làm ông khó thở chống chọi với bao đêm không ngủ!

Thơ ông là những viên đạn bắn thẳng vào đầu não chế độ. Tập thơ Hoa Ðịa Ngục mang đến cho cộng đồng hải ngoại một luồng khí mới. Cuộc hội họp nào ban tổ chức cũng muốn mời ông tham dự. Ông đi khắp nơi nói về tội ác cộng sản, ông say sưa diễn thuyết không biết mệt. Khác hẳn khi vào bàn tiệc, ông lại là người thâm trầm hơn ai hết. Nói rất ít, ăn vừa đủ một chén cơm và chỉ ngồi lắng nghe.

Về con người ông thì chỉ những ai sống gần ông mới hiểu, bề ngoài trông khô khan khắc khổ nhưng ông lại là người tình cảm rạt rào nhất là tình yêu mến quê hương đất nước. Bảo rằng ông “cô đơn sống lẻ loi đơn độc và chỉ muốn chết” là không đúng. Thử hỏi, nếu không có những người can đảm như nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, dám chống lại CS khi còn nằm trong lòng chế độ, dám chạy vào tòa đại sứ Anh với hy vọng tập thơ được tung ra hải ngoại dù biết rằng tánh mạng mình sẽ không còn, thì thế giới làm sao biết được nỗi thống khổ của người dân miền Bắc sau cái gọi là “chống Pháp giành độc lập”? Một người can đảm phi thường như thế chẳng lẽ lại buồn rầu muốn chết chỉ vì “lẻ loi đơn độc”? Tuy sống một mình nhưng ông không cô đơn, ông được mọi người thương mến gọi điện, lui tới thăm viếng hằng ngày. Từ Washington DC, từ Úc Châu, Pháp Ðức, từ Ðông Âu xa xôi và cả Việt Nam, mỗi khi có dịp về thủ đô tị nạn là ghé đến thăm ông. Họ là những người hâm mộ thơ ông, kính trọng tư cách con người ông, không kiêu căng hợm hĩnh dù mình là người nổi tiếng. Tư tưởng ông trong sáng hài hòa đầy nhân bản. Giọng nói hùng hồn như văng vẳng đâu đây… “Chúng ta căm giận mà không tàn ác vì chúng ta trân quí điều thiện. Chúng ta nhân ái mà không khoan nhượng, hòa hợp với tội ác vì chúng ta phẫn nộ trước mọi cái ác. Chúng ta biết ngửng đầu trước sức mạnh đen tối của bạo lực, nên chúng ta biết khoan dung cho những kẻ biết cúi đầu hối cãi, ủng hộ khuyến khích họ trở về với ‘lương tri’ với “dân tộc” (Hỏa Lò -trang 176).

Ngay cả những người từng vu khống đánh phá ông, ông cũng không mấy bận tâm. Có lần các nhà báo đến thăm cho ông biết họ vừa gặp Lê Tư Vinh (Vạn Thắng), ông này trách Nguyễn Chí Thiện dám “hỗn láo với cả Phật Tổ” (qua 4 câu thơ “Mười mấy năm sống giữa lao tù/Sống giữa buồng tim chế độ/Tôi đã hiểu tận cùng bể khổ/Mà trước kia Phật Tổ hiểu lơ mơ”). Nghe thế ông cười cười: “Ơ hay, trách Lý Ðông A chứ sao lại trách tôi!” Câu trả lời dí dỏm làm mọi người cùng cười trong bầu không khí vui vẻ thân mật. Gần đây, đảng “dễ dãi” cho phép các nhà bất đồng chính kiến (ở độ nhẹ) qua Mỹ du lịch để cho các “tay sai” bên này “tẩy não”, ông đã từ tốn, lý luận với họ rằng “Giả sử nhé, nếu như TT Obama bây giờ mà cố ý giết chết người, chỉ một người thôi, thì bị đem ra xử nếu có tội ông sẽ bị tử hình. Còn đây, giết cả trăm ngàn người để tiêu diệt quyền tư hữu thì có xứng đáng tôn vinh là cha già dân tộc hay không?”

Nơi ông còn một tình yêu quê hương đậm đà thắm thiết. Khi nghe tin Phùng Cung người bạn tù đã vĩnh viễn ra đi, ông đau xót “…Tôi nghĩ chúng ta vạn bất đắc dĩ mới phải rời bỏ đất nước. Quê cha đất tổ càng đau khổ, chúng ta càng xót thương. Tôi hằng mơ ước một ngày không xa, quê hương Việt Nam yêu dấu được tự do, tôi sẽ trở về tìm lại những thứ cuộc đời không thể quên, gắn bó với hồn tôi từ thuở tôi còn mặc quần thủng đít. Những bờ tre, góc phố, những hương cau hương bưởi,những quán nghèo, những con trâu con chó đầy ân tình, những mùa trăng mênh mang, những con người đôn hậu, cần cù thông minh hóm hỉnh, cùng chung tiếng nói, điệu ru, câu hò, giọng hát, cùng chung một lịch sử vui buồn, một nền văn hiến ngàn năm, và nhất là cùng chung bao tan tác, nổi chìm, dập vùi tai họa trong gần nửa thế kỷ. Vào những giờ phút hoàng hôn của tuổi sáu mươi, tôi luôn có cảm giác mình đang sống những ngày ủ rũ buổi tàn thu…” (Hỏa lò- Phùng Cung- trang 175-176)

Hình ảnh quê hương đã khắc sâu vào tâm khảm khiến ông vẫn thấy dửng dưng khó hòa đồng vào cuộc sống nhộn nhịp vật chất văn minh này. Ông không cô đơn vì ông không thiếu tình bằng hữu nhưng ông vẫn mang nặng nỗi buồn về tình cảnh tang thương của đất nước. Ông tâm sự đời ông có hai ước nguyện. Cho thế giới thấy rõ được bộ mặt tàn ác của chế độ qua những vần thơ mà ông đã bỏ hết công sức trong những năm tháng tù đày và ông đã toại nguyện. Ước nguyện thứ hai cho quê hương có được tự do dân chủ thì vẫn còn trong giấc mơ mà ông thì càng ngày sức khỏe càng yếu đi… Năm 1969 ông đã tin chắc:

 

“Tôi tin chắc một điều
Một điều tất yếu
Là ngày mai mặt trời sẽ chiếu
Tôi lại nghĩ một điều
Một điều sâu thẳm
Là đêm tàn Cộng Sản tối tăm
Có thể kéo dài hàng mấy mươi năm
Và như thế sẽ buồn lắm lắm
Cho kiếp người sống chẳng bao lăm!”

(Tôi Tin Chắc 1969)

 Phải chăng vì thế mà nụ cười đã thiếu vắng nơi ông?

Khi bàn đến hai câu thơ “Nếu nhân loại mọi người đều biết/Cộng sản là gì, tự nó sẽ tan đi”, ông buồn rầu cho đất nước mình. Là nạn nhân trực tiếp của chế độ kéo dài hơn nửa thế kỷ nay, lẽ ra người Việt chúng ta tất phải hiểu Cộng Sản hơn ai hết nhưng theo ông, “lòng yêu nước của người Việt Nam đã bị Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản tiêu giết hết rồi”. Một Nguyễn Hữu Ðang (người đứng đầu nhóm Nhân Văn Giai Phẩm), đem cả tuổi thanh xuân đầy nhiệt huyết tham gia cách mạng, làm tới chức thứ trưởng Bộ Tuyên Truyền, cũng chỉ vì sửa sai đảng khi nghe Hồ Chí Minh khóc nhận sai lầm trong Cải Cách Ruộng Ðất, mà bị Hồ kết án 15 năm tù và 5 năm mất quyền công dân, ra tù, không cửa không nhà, nghèo đói ăn cóc nhái sống qua ngày.

Người thanh niên thứ hai, điển hình trong thơ Tố Hữu, đã dứt khoát cắt đứt tình phụ tử khi người cha làm việc cho Pháp kêu gọi anh hãy bỏ cách mạng trở về gia đình sống trong cảnh giàu sang phú quí, anh đã khẳng khái trả lời:

 “…Bức thơ đây là một bức cuối cùng
Mà cha chỉ là cha trong dĩ vãng
Thôi hạ bút cho thân tình gián đoạn
Ðể cho đời kết án kẻ gian phi
Thanh gươm trần con tuốt sẵn chờ khi…”

 Trung thành với chủ nghĩa do Hồ Chí Minh soi đường dẫn dắt, người thanh niên đó đã dập tắt đi lòng yêu nước, biến mình thành con người không có trái tim, hô hào “Giết giết nữa bàn tay không phút nghỉ” để “Thờ Mao Chủ Tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt”.

Loại người độc ác thiếu tim đó, ngày hôm nay lại trở thành những tên bán nước đang ra tay tiêu diệt lòng ái quốc của các nhà dân chủ trong nước bằng đe dọa bắt bớ tù đày, bằng những âm mưu biến lớp trẻ chỉ biết ăn chơi sa đọa quên đi nỗi nhục hán hóa gần kề, bằng Nghị Quyết 36 dùng tiền bạc lợi danh âm mưu lũng đoạn gây chia rẽ cộng hải ngoại, đánh phá tôn giáo… Thử hỏi những ai nặng lòng với quê hương dân tộc làm sao không ưu tư không xót xa cho được!

Mấy lúc sau này thấy ông yếu đi, bạn hữu đề nghị đưa ông đi nghỉ mát, ông chọn Florida nhưng không thực hiện được vì thời tiết và sức khỏe. Bạn bè thương yêu ông từ Úc bay qua quây quần bên ông ba ngày ở Las Vagas. Các cuộc đi chơi sau này chỉ thực hiện được một ngày, sáng đi chiều về, nay Huntington Beach, mai núi đồi San Juan yên tĩnh cũng giúp ông bớt căng thẳng phần nào. Buổi họp mặt dự tính vào cuối tháng 9 ở Dana Point Beach thì ông đã vào nhà thương, 6 ngày sau đó ông vĩnh viễn ra đi để lại bao thương tiếc cho bạn bè.

Có lẽ biết mình không sống được bao lâu ông tự an ủi “hai mươi bảy năm bệnh tật đói khát vùi dập mà sống được đến hôm nay là may mắn lắm rồi!” Bạn bè đề nghị ông về ở với họ cho có người săn sóc, ông từ chối viện cớ khó ngủ nhưng thật ra ông không muốn làm phiền đến ai. Dấu ấn của tù đày luôn theo ông. Bác sĩ cho biết bệnh lao đã để lại nhiều vết sẹo bám dày vào phổi, làm phổi cứng không hấp thụ được dưỡng khí, ông khó thở, cộng thêm tim thận cũng quá yếu nên mới đi nhanh như vậy.

Nghe chuyện kể về ông, nhà thương họ cảm động săn sóc cho ông tận tình. Biết ông nói được hai ngoại ngữ họ càng phục ông hơn. Ngày 30 tháng 9 năm 2012 giáo sư Lora đã đến bên ông với niềm xúc cảm quí mến chân tình, bà nói với ông nguyên văn như sau:

“You have made the big difference in your life… I hope you don’t die… I don’t know but we can do everything we can to help you. My assistant will spend the day with you, even going down stair, she will go down with you.

You created the legacy with what you have gone through… I am going to get your books. I am going to research your story on internet because I want my children to know. Because they don’t appreciate their freedom and I want them to see how people suffer in order to have freedom of speech, in order to express themselves. I think you are an inspiration to all future generations, especially to this country because people take it for granted and they don’t appreciate what they have”.

(Tạm dịch: “Ông đã làm điều rất lớn trong đời ông… Tôi hy vọng ông không chết… Tôi không biết nhưng chúng tôi có thể làm tất cả những gì có thể làm được để giúp ông. Người phụ tá của tôi sẽ ở bên ông trọn ngày, ngay cả khi ông được di chuyển xuống tầng dưới cô ấy cũng đi theo bên ông.

Ông đã tạo ra một di sản với những gì ông đã trải qua. Tôi sẽ tìm sách của ông. Tôi sẽ nghiên cứu về những câu chuyện và tình tiết trên internet, vì tôi muốn các con của tôi biết. Bởi vì chúng không hiểu rõ giá trị của tự do và tôi muốn chúng thấy thế nào khi người ta chịu đau khổ để được tự do ngôn luận, được tự do bày tỏ quan điểm. Tôi nghĩ ông là nguồn cảm hứng cho các thế hệ tương lai, đặc biệt là quốc gia này bởi vì người ta lấy đó (tự do) như là được trao cho và họ không tôn trọng những gì họ có”.)

Ngày cuối cùng trước khi giao căn hộ lại cho văn phòng, những người quí mến ông đã gặp nhau, bùi ngùi thương nhớ, cảnh vật còn đó nhưng người thì đã lìa xa. Những chai sữa Ensure được gửi qua từ Massachussets, bột dinh dưỡng được mang đến từ San Francisco, quần áo, khăn tắm, được bỏ vào từng bọc, tất cả còn mới toanh chưa cắt tags. Nhìn cái khăn treo trong buồng tắm mấy ai ngăn được xúc động dâng trào. Nó được mang từ Việt Nam, mỏng manh bé tí, gấp đôi lại chỉ bằng hai bàn tay. Bạn bè thấy thế đã mang đến cho ông biết bao nhiêu cái đủ màu đủ cỡ nhưng ông vẫn không bỏ nó được, vì nó đã gắn bó với ông gần nửa đời người. Cái ăn cái mặc đối với ông không phải là điều quan tâm mà tinh thần ý chí cương quyết mới cần phải chú trọng. Ngày ông xức dầu Thánh trở thành tín đồ Công Giáo, nghe nói mắt ông sáng hẳn, ông nói mạnh lưu loát khi nhắc đến tên cha Lý.

Lần đầu tiên mới thấy ông cười, nụ cười hiền hòa tự nhiên như báo hiệu cho một ngày mai tươi sáng trên quê hương ta!

Bài thơ của Di Hạnh sau đây coi như thay mặt các bạn hữu xa gần tiễn đưa ông về cõi vĩnh hằng. Người ở lại luôn ghi khắc và làm theo những gì ông trăn trối.

 Vĩnh biệt Nguyễn Chí Thiện

Tiếng thơm tho đã nhiều người chọn
Nói về anh tràn ngập những văn từ
Những khổ đau trong cảnh ngục tù
Thơ anh vẫn trỗi lên niềm hy vọng
Tôi là một trong nhiều người thương mến
Yêu quý anh
Anh là một nhân tài
Thơ của anh càng đọc càng hay
Càng thắm thía quê hương và thân phận
Khao khát tự do tràn dâng với niềm uất hận
Thơ trải ngầm những giấc mộng yêu thương
Cuộc sống anh giản dị lạ thường
Không bận rộn với vấn đề vật chất
Anh ưu tư, anh hùng hồn, anh bất khuất
Anh nhìn về đất mẹ để xót xa
Ngày tháng dần qua
Tuổi đời chồng chất
Dáng thi nhân gầy guộc mỗi lúc thêm
Ðầu thu này lá chưa rụng qua thềm
Một sức nóng cuốn anh vào cõi khác
Không gian ảo có nỗi buồn rào rạt
Thơ văn anh được bàn luận nhiều hơn
Khí phách anh hậu thế noi gương
Anh an nghỉ cõi vĩnh hằng xa thẳm
Vĩnh biệt anh, trời thu này buồn lắm!
Di Hạnh
Oct 3, 2012

Central Valley 10-2012
Nhàn SF

Nguyen Chi Thien
The Economist

Nguyen Chi Thien, a Vietnamese poet, died on October 2nd, aged 73

THE poems were under his shirt, 400 of them. The date was July 16th 1979, just two days—he noted it—after the anniversary of the fall of the Bastille. Freedom day. He ran through the gate of the British embassy in Hanoi, past the guard, demanding to see the ambassador. The guard couldn’t stop him. In the reception area, a few Vietnamese were sitting at a table. He fought them off, and crashed the table over. In a cloakroom nearby, an English girl was doing her hair; she dropped her comb in terror. The noise brought three Englishmen out, and he thrust his sheaf of poems at one of them. Then, calm again, he let himself be arrested.

Thus Nguyen Chi Thien sent his poems out of Communist Vietnam. They were published as “Flowers of Hell”, translated into half a dozen languages, and won the International Poetry Award in 1985. He heard of this, vaguely, in his various jails. In Hoa Lo, the “Hanoi Hilton”, one of his captors furiously waved a book in his face. To his delight, he saw it was his own.

He was not strong physically. He contracted TB as a boy; his parents had to sell their house to pay for his antibiotics. Then since 1960, on various pretexts—contesting the regime’s view of history, writing “irreverent” poetry—he had done several long spells in prison and labour camp. Hard rice and salt water had made him scrawny and thin-haired by his 40s. Internally, though, he was like steel: mind, heart, soul. Sheer determination had forced him through the British embassy that day. In fact, the more the regime hurt him, the more he thrived:

They exiled me to the heart of the jungle
Wishing to fertilise the manioc with my remains.
I turned into an expert hunter
And came out full of snake wisdom and rhino fierceness.

They sank me into the ocean
Wishing me to remain in the depths.
I became a deep sea diver
And came up covered with scintillating pearls.

The pearls were his poems. He kept his early efforts in a table-drawer where he found them later, the paper gnawed by cockroaches. The mind’s treasury was a safer place for them. It was also, for almost half his life, the only place he had. In prison he was allowed no pen, paper or books. He therefore memorised in the night quiet each one of his hundreds of poems, carefully revised it for several days, and mentally filed it away. If it didn’t work, he mentally deleted it. If it started to smell bad—like the one about Ho Chi Minh, Vietnam’s first Communist leader—he turned it into a stinging dart instead:

Let the hacks with their prostituted pens
Comb his beard, pat his head, caress his arse!
To hell with him!

Walking out to till the fields with his fellow prisoners, many of them poets too, he would recite his poems to them and they would respond with theirs. Some of them counted the beats on their fingers to remember. He never did; memory alone served him. It saved him, too. After 1979 he spent the best part of eight years in solitary, in stocks or shackles in the dark. His poems became sobs, wheezes, bloody tubercular coughs. But in his mind he still set out fishing, and watched dawn overtake the stars. He sniffed the jasmine and hot noodle soup on a night street in Hanoi. He remembered his sister Hao teaching him French at six—what a paradise the French occupation seemed, in retrospect!—and went swashbuckling again with d’Artagnan and his crew. That way, he kept alive.

Drinking with Li Bai

A favourite prison companion was Li Bai, the great poet of eighth-century China. He would sup wine with him from amber cups, loll on chaises longues, watch pretty maidens weaving silk under the willow trees and the peach blossoms falling. He would talk to the moon with him and get wildly, romantically drunk. There was a flavour here of his own careless youth, his teahouse years of girls and smoking. Both he and Li Bai had offended the emperor, mocked the education system, and been punished. But somehow the oppressions of the distant past seemed bearable. Not so the acts of Vietnam’s red demons, with their nauseating loudspeaker jingles about Happiness and Light.

Out of prison, Li Bai-like, he dealt in rice brandy for a while, and tried to sell bicycle spokes. He could not make a go of it. From 1995 he managed to get shelter in America. He lived humbly in Little Saigon in Orange County, California, lodging with fellow countrymen. Green tea and smoking remained his chief comforts. A flat cap or a fedora were his trademarks. He had nothing to share but his poems and his memories of fellow poets, whose cattle-trodden graves now dotted the hills around the labour camps. That, and his roaring hatred of the regime in his country, where his writings remained banned.

If people could see his heart, he had written back in 1964, during his first spell in prison, they would see it was an ancient pen and inkstand, gathering dust; or a poor roadside inn, offering only the comfort of an oil lamp. But it was also a paddy field waiting for the flood-rains of August,

So that it can overflow into a thousand waves,
White-crested ones that will sweep everything away!

Jean Libby

The dissident poet Nguyen Chi Thien in 2008 in California.

It was not the isolation that was hardest to endure, though it lasted nearly three decades. Nor was it the cold of his cell, where he was often chained naked, nor summer’s blistering heat, nor the rusty shackles that infected his legs, nor the relentless hunger.

Follow @nytimesarts for arts and entertainment news.

A younger Mr.Thien

Yale University

Poems  by Mr. Thien published after British diplomats helped get them out of Hanoi.

It was, Nguyen Chi Thien said afterward, the utter lack of access to the written word: no books, no newspapers and, more devastating still for a poet, not so much as a pencil or a scrap of paper.

He kept writing anyway, producing songs of love, howls of protest and hundreds of other poems — some 700 in all — each one composed, edited, revised and stored entirely in his head for a posterity he was not sure would come.

Mr. Thien, a dissident writer who has been called the Solzhenitsyn of Vietnam for the sheaves of poems he wrote opposing the Communist government there — and for the prolonged imprisonment, including torture and solitary confinement, that his efforts earned him — died on Tuesday in Santa Ana, Calif. He was 73.

The apparent cause was respiratory illness, said Jean Libby, a friend who has edited English translations of his work. Mr. Thien, who was allowed to leave the country in 1995 and became a United States citizen in 2004, had been ill with emphysema for many years and had suffered from tuberculosis nearly all his life.

His health had been broken by his 27 years in Vietnamese prisons and labor camps, including half a dozen years in the “Hanoi Hilton” — the name, born of bitter irony, bestowed by captured American servicemen on the Hoa Lo Prison there.

Mr. Thien’s odyssey began on an otherwise ordinary day in 1960, after he had attempted to correct a piece of the Communists’ revisionist history before a class of high school students. By the 1980s and ’90s, his case had become an international cause célèbre, taken up by the human-rights group Amnesty International and the writers’ organization PEN International, among others.

Mr. Thien was considered one of the foremost poets of contemporary Vietnam, often mentioned in world literary circles as a candidate for the Nobel Prize in Literature. Of the 700 poems he wrote in prison, “70 to 100 would be considered masterpieces in our language,” Nguyen Ngoc Bich, one of his translators, said in a telephone interview on Friday.

Mr. Thien’s best-known work, the book-length verse cycle “Flowers From Hell” — which he managed to slip into Western hands, at great personal cost, during one of his rare moments of freedom — was published in the United States in English in 1984 and has been translated into many other languages.

In a poem from the collection, composed in prison camp in 1970, Mr. Thien wrote:

My poetry’s not mere poetry, no,
but it’s the sound of sobbing from a life,
the din of doors in a dark jail,
the wheeze of two poor wasted lungs,
the thud of earth tossed to bury dreams,
the clash of teeth all chattering from cold,
the cry of hunger from a stomach wrenching wild,
the helpless voice before so many wrecks.
All sounds of life half lived,
of death half died — no poetry, no.

For all his renown, Mr. Thien spent his last years quietly in the Vietnamese diaspora in Orange County, Calif., known as Little Saigon. He occupied a series of rented rooms and, most recently, a federally subsidized apartment in Santa Ana, reading, writing, lecturing and making political broadcasts on Vietnamese-language radio and television stations throughout the United States. He lived modestly, sustained partly by public assistance and donations from supporters but unable to afford medical insurance.

“He led an extremely austere life,” Mr. Bich said. “He cared so little about money that when people invited him to speak in various places, and they would collect money to give to him, most of the time he would refuse. He said, ‘Give it to other people who need it more than I.’ ”

The youngest child of a middle-class family, Nguyen Chi Thien was born in Hanoi on Feb. 27, 1939. He resolved early on to become a writer, a decision that in the Vietnam of the period was virtually synonymous with becoming a poet.

“The importance of poetry in Vietnamese literature is paramount,” Mr. Bich said. “It’s so paramount that until the end of the 19th century and even at the beginning of the 20th century, probably 95 percent of Vietnamese literature was in the form of poetry. We have history books that are written entirely in poetry.”

In such a culture, the power of poetry to subvert is immense, and in Mr. Thien’s hands, it would be deemed a dangerous weapon.

The course of Mr. Thien’s life was determined in 1954, after his native country was partitioned into North and South Vietnam. His parents, believing the Communist leaders of the north would be good for the country, chose to keep the family in Hanoi.

Young Mr. Thien’s political troubles began in 1960, after he agreed to fill in for an ailing friend who taught high school history. He noticed that the students’ textbook falsely claimed that the Soviets had brought about the Japanese surrender in World War II.

Mr. Thien told the class that in fact, Japan had surrendered after the United States dropped atomic bombs on Hiroshima and Nagasaki. He was arrested soon afterward.

He was sentenced, without trial, to three and a half years’ hard labor. It was then that he began composing poems in his head.

Released in 1964, Mr. Thien worked as a bricklayer, reciting his poems covertly to close friends. In 1966, he was arrested again on suspicion of having written those poems, which were by then circulating orally in Hanoi and elsewhere. He spent nearly a dozen years in North Vietnamese re-education camps, again without trial.

“All he had to do at any time was sign a paper saying he was wrong and Communism was right, and he could have walked away,” Ms. Libby said. “They offered him all this if he would say Ho Chi Minh is the hero and Communism is paradise.” Mr. Thien would not sign.

In 1977, two years after Saigon fell to the Communists, Mr. Thien was released along with many other political prisoners: Hanoi wanted to make room in its jails for the thousands of South Vietnamese officials it was then imprisoning.

He knew that his chances of rearrest were great, and he was not certain, he later said, that he would survive a third incarceration. He feared his work would die with him.

In secret, he set down on paper as many poems as he could recall — about 400 — which took three days of continuous writing. He took the manuscript to the British Embassy in Hanoi, where he managed to evade the guards long enough to slip inside.

He asked the British officials there for asylum, which they said they could not grant. He asked them to see that his poems reached the West, and that, they said, they would do.

On leaving the embassy, Mr. Thien was arrested and imprisoned without trial for the third time. He spent six years in Hoa Lo, three of them in solitary confinement, followed by another six years in prison camps.

Unbeknown to him, his manuscript was making its way around the world during this time, passed from hand to hand in Britain and the United States. In 1984, the Council on Southeast Asia Studies at Yale University published it as “Flowers From Hell,” translated by Huynh Sanh Thong.

The next year, the volume won the Rotterdam International Poetry Award, presented to Mr. Thien in absentia.

“Nobody knew where he was,” Ms. Libby said. “They didn’t know if he was alive or dead.”

The award brought Mr. Thien’s case to the attention of human-rights groups, which helped locate him and lobbied on his behalf. He was released from prison in 1991, weighing 80 pounds. After spending the next four years under house arrest in Hanoi, he was allowed to leave for the United States.

Mr. Thien never married. “He did have a few persons that he was in love with, and they were in love with him too,” Mr. Bich said. But then in jail, he wrote poems saying “that they should forget about him, because they’ll never know when he would be out.”

His survivors include a brother, Nguyen Cong Gian, and a sister, Nguyen Thi Hoan.

Mr. Thien’s other work in English translation includes “Flowers of Hell” (1996), a two-volume work translated and published by Mr. Bich, which comprises a new translation of the 1984 works plus an additional cycle of several hundred poems; and “Hoa Lo/Hanoi Hilton Stories,” a volume of short fiction published by the Council on Southeast Asia Studies in 2007.

Today, his poetry is also available in French, Spanish, German, Dutch, Czech, Korean and Chinese. It remains unavailable in Vietnam.

In the end, Mr. Thien’s work attained the posterity of which he had long dreamed. It was a prospect he allowed himself to imagine in “Should Anyone Ask,” composed in a prison camp in 1976:

Should anyone ask what I hope for in life
Knowing that I am in jail, you would say:
Release!
Knowing that I have been hungry, you would say:
Food and warmth!
No, no, you would be wrong, for in the Communist land
All these things are chimera
Whoever would hope for them
Must kneel in front of the enemy.
In the long struggle against the prison
I have only poetry in my bosom,
And two paper-thin lungs
To fight the enemy, I cannot be a coward.
And to win him over, I must live a thousand autumns!

Persecuted poet gave voice to dissenters

October 11, 2012
The Sydney Morning Herald

NGUYEN CHI THIEN, 1939-2012

Nguyen Chi ThienAnti-communist … Nguyen Chi Thien was imprisoned three times for his views. Photo: Simon O’Dwyer

Nguyen Chi Thien was a Vietnamese dissident poet and was one of his country’s longest prisoners of conscience.

He was born in Hanoi in 1939 and initially welcomed the victory of Ho Chi Minh-led anti-French resistance in 1954 that spelled the end of French colonialism in Vietnam. The country was subsequently divided into two: the communist North backed by China and the Soviet Union, and the liberal South backed by the US.

Thien stayed in the North but his initial enthusiasm for the country’s newly found independence soon turned to terror. The Communists had turned North Vietnam into a prison. Poets and writers were terrorised into silence. More than 170,000 peasants were killed following the Maoist-styled ”land reform” campaign.

In 1960, after Thien had graduated from the Hanoi Faculty of Letters, a teacher friend asked him to be a substitute to teach a history class. He was horrified that the textbook said that the Soviet Union had defeated the Japanese army and ended World War II. He told the class that that was not true. It was the US who defeated Japan in 1945 after dropping two atomic bombs on Japan. This action landed Thien in prison for 3½ years. In prison, stripped of pen and paper, he composed his poems in his head and committed them to memory.

In 1966, he was jailed again, this time for more than 11 years after his ”reactionary” poems were circulated.

He lamented the communist victory over South Vietnam in 1975: ”We are now united in one block of suffering/We are now united in one block of hatred/O South Vietnam the day of your loss/I suffer from one thousand, ten thousand agonies.”

Released in 1977, he lived under constant police surveillance. In 1979, fearing that he may not live if he was imprisoned for the third time, Thien determined to smuggle his poetry out of Vietnam.

He ran into the British embassy in Hanoi, shouting: ”I’m not crazy! I’m not crazy!” at the startled staff. The lanky and dishevelled man pulled out from under his shirt a thick roll of paper, his hand-written collection of 400 poems, and asked British diplomats to take it out to the free world.

For this, he was immediately rearrested and spent 12 more years in prison.

His poetry first appeared in the US in the early 1980s under the title A Cry from the Abyss, then as Flowers of Hell. It was translated into English, French, German, Dutch, Spanish, Chinese, Czech and Korean. Thien won the Rotterdam International Poetry Prize in 1985 and the 1988 ”Freedom to Write” award.

Amnesty International adopted Thien as a prisoner of conscience in 1990.

He was finally released in 1991 and resettled in the US in 1995, the same year he was honoured by Human Rights Watch.

He published two short-story collections Hoa Lo (Hanoi Hilton) and Hai Chuyen Tu (Two Prison Stories) and continued to speak out strongly against the communist oppression in his homeland.

Thien’s prison mates included the prominent human rights advocate Catholic priest Father Nguyen Van Ly.

Father Ly’s bravery and grace touched Thien deeply. Before he died, Thien was baptised as a Catholic and took the Christian name of Thomas More.

Quynh Dao

Originally published Thursday, October 4, 2012 at 4:11 PM
The Seattle Times

Vietnamese dissident poet Nguyen Chi Thien dies

Nguyen Chi Thien, a Vietnamese dissident poet who spent nearly 30 years in communist prisons in his native country, died in a Southern California hospital Tuesday after a long bout of lung illness, according to a close friend. He was 73.

The Associated Press

LOS ANGELES —Nguyen Chi Thien, a Vietnamese dissident poet who spent nearly 30 years in communist prisons in his native country, died in a Southern California hospital Tuesday after a long bout of lung illness, according to a close friend. He was 73.Thien had contracted tuberculosis while in Vietnamese prisons and doctors were investigating a large mass in his lung in the days before he died, his close friend Hanh Thang-Thai said. The actual cause of his death was unclear.Thien’s former translator, Nguyen Ngoc Bich, says Thien is by far the most famous Vietnamese poet of his generation.”It’s like the passing away of a great symbol for the so-called free Vietnam, people who still believe in freedom and democracy for Vietnam,” Bich said.Thien first went to prison in 1960, after telling Vietnamese high school students that, contrary to their textbooks, the end of World War II was not the result of a Soviet attack, but rather U.S. nuclear attacks in Japan.He was later imprisoned again because of poems he wrote that decried communist oppression. But due to a lack of evidence, he never went to trial.In 1977, Thien was released from prison long enough to write down poems he had memorized in captivity, a manuscript that became known as “Flowers of Hell.”The poems were published in Vietnamese after he hand-delivered them to British diplomats at their embassy in Hanoi, Vietnam.When he exited the embassy, security agents were awaiting him and he was promptly sent back to prison.While he was still imprisoned, Thien won the International Poetry Award in Rotterdam in 1985.He was released from prison in 1991 and traveled to the United States in 1995, and later France, before settling in Orange County’s Little Saigon.Thien’s friend Thang-Thai said she and a group of women cared for him, cooking for him and buying him clothes when he needed it, and that he led a humble life.

“His body was breaking, but he was very, very strong mentally,” Thang-Thai said. “Before his death, he said to me, `Be happy, Hanh.’ He was a very special person.”

PDF file
http://www.mediafire.com/?5po66ska865956l

 

Thụy Khuê – Nguyễn Chí Thiện (1939-2012) và Hoa địa ngục

Thụy Khuê
Năm 1979, một tập thơ từ Hà Nội được chuyển ra nước ngoài. 1980, được in ra. Những ấn bản đầu tiên không đề tên tác giả, chỉ biết đó là một người tù, một kẻ mạo hiểm đã đem tác phẩm của mình “ném vào” toà đại sứ Anh. Tác giả lập tức bị bắt. Bị tù. Đó là Hoa địa ngục của Nguyễn Chí Thiện.

T trái: kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, tác giả Hoa địa ngục – nhà thơ Nguyễn Chí Thiện
nhà văn Thụy Khuê và nhà văn Phạm Phú Minh tại Người Việt’s studio

Hoa địa ngục, khi mới in, mang những tên như Tiếng vọng từ đáy vực1 (1), Quê hương tù ngục2 (2), v.v… Nhiều năm sau mới trở lại với tên Hoa địa ngục do tác giả chọn.

Hoa địa ngục hay những đoá hoa nẩy sinh từ địa ngục -chắc hẳn đã cảm hứng từ Fleurs du mal (Ác hoa), những đoá hoa nảy sinh từ nỗi đau, từ cõi ác của Baudelaire- chiếu vào cuộc đời tù ngục và con người dưới chế độ toàn trị, theo truyền thống Đỗ Phủ.

 
Nguyễn Chí Thiện nổi tiếng ngay, được nhiều giải thưởng quốc tế của các cơ quan tranh đấu cho nhân quyền, song thơ ông có lẽ chưa bao giờ được đánh giá đúng mức khi ông còn sống.
Bởi nhiều lý do, nhưng có lẽ đáng chú ý nhất là điểm cộng đồng người Việt hải ngoại chia nhiều phe phái: Phái tả thiên cộng không chấp nhận những câu thơ chạm đến “bác” trong bất cứ hoàn cảnh nào. Phái hữu, phần lớn không chú ý tới thi ca và tranh đấu; phần nhỏ cực hữu, sử dụng ông như một vũ khí, một viên đạn trực tuyến chống cộng. Phái “văn học” xếp thơ ông vào loại chính trị “phi nghệ thuật”. Cuối cùng chỉ còn lại một số ít người trung thành với thi ca và tự do, đã bảo vệ ông trong suốt hành trình lâm nạn và số đông quần chúng vô danh, vô nhãn, đọc thơ ông trong im lặng.
Những thành kiến cả yêu lẫn ghét, thường dựa vào mấy câu thơ ông kịch kiệt chửi cộng sản làm nền. Chính những câu thơ này đã tạo ra cliché một Nguyễn Chí Thiện chống cộng cực đoan, quá khích, đi ra ngoài thế giới thi ca Nguyễn Chí Thiện.
Nguyễn Chí Thiện, trong sâu thẳm của thi ca, hình hài, và ngôn ngữ, trong tác phong, trong cách diễn đạt, là một nhân cách thật, một con người thật. Chỉ vì nói thật mà mắc vòng tù tội. Một con người ngây thơ, thành thật, ngơ ngác, vấp ngã trước bao giả trá, tàn ác của chế độ độc tài. Tính thật ấy toát ra trong lời nói, trong câu văn, không hoa mỹ, không vòng vo. Chất thật ấy bao trùm không gian, bọc lấy người nghe, như một điệu buồn, như một hồn ma không đất đậu trên quê hương mà gian dối đã thở thành sự thật.
Năm 1960, ở tuổi 21, vì trót giảng cho học trò đúng sự thật về một đoạn lịch sử thế chiến thứ hai, Nguyễn Chí Thiện phạm tội “phản tuyên truyền”, bị kết án 2 năm, nhưng phải tù 3 năm rưỡi, cho đến 1964.
Năm 1966, bị tình nghi làm thơ chống chế độ, lại bị bắt, bị tù 11 năm, 1977 được thả.
Năm 1979, “ném” tập thơ Hoa địa ngục vào toà đại sứ Anh, bị bắt tức khắc. Bị tù 12 năm, đến 1991.
Trước sau tổng cộng 27 năm.
Ngày 28/10/1991, Nguyễn Chí Thiện được thả. Tháng 1/1995, được sang Hoa Kỳ.
Nguyễn Chí Thiện, trong sâu thẳm của lời nói, lời thơ, chính là sự thành thật đã qua đời dưới một thế quyền mà sự giả trá đã trở thành quốc sách.
Sự thành thật nguyên thuỷ toát ra từ giọng nói và thi ca của ông, làm cho người nghe, người đọc ở xã hội “tân tiến” phải ngạc nhiên vì chất men “quê mùa” còn sót lại trong con “người rừng” đã trải gần ba mươi năm tù hãm, đói khát, bệnh tật. Đối với thế giới “văn minh”, Nguyễn Chí Thiện là người tiền sử.
Làm thơ khi bắt gặp một cảnh huống, một ý nghĩ, một tâm sự, một chạnh lòng,… Ông là nhà thơ trần thuật, một người kể chuyện bằng thơ.
Thơ ông gần với lời, thơ ông chính là lời nói vội chưa kịp tu từ thành thi ca, còn nguyên chất ròng khổ đau tù ngục.
Hoa địa ngục là thiên hồi ký về cuộc đời tù tội trong những căn ngục riêng, dưới mái giam chung là cuộc đời trong xã hội cộng sản.
Người ta trách thơ ông thiếu nghệ thuật, cũng phải. Ở địa vị ông, có nhà thơ nào còn kịp nghĩ đến nghệ thuật làm thơ? Còn kịp nghĩ đến việc gọt giũa một chữ đẹp cho thơ? Hay tất cả cũng sẽ như ông: chớp nhoáng, ghi lại những đớn đau gào thét trong thịt da tâm não.
Bản thảo Hoa địa ngục tập hợp những bài thơ viết tay, dưới đề năm, chắc là những trang giấy rời, cho nên khi in ra, mỗi người sắp xếp theo một lối, hầu như vô trật tự, không theo thời gian, mà cũng không theo chủ đề, các bản in thường có rất nhiều chữ đánh máy sai, nhưng tạm gọi là đầy đủ, chỉ hơn kém nhau một vài bài.
Lối in vội, in tất cả này, chỉ có ích lợi nhất thời; nhưng về lâu về dài, sẽ gây rối loạn cho độc giả: những bài thơ dở làm giảm giá trị những bài thơ hay, nhụt chí người đọc. Bởi thơ cần hay không cần nhiều. Biết bao nhà thơ đã làm giảm giá trị của mình bằng những bài thơ dở hoặc những lời thơ lập đi lập lại nhiều lần. Nguyễn Chí Thiện cũng không ngoại lệ.
Vậy điểm đầu tiên, khi in hoặc in lại thơ Nguyễn Chí Thiện, có lẽ nhà xuất bản nên tuyển, lược những bài dở hoặc lập lại; rồi xếp theo chủ đề, hoặc theo thứ tự thời gian, để làm sáng tỏ vũ trụ thơ Nguyễn Chí Thiện: Thân phận con người trong xã hội toàn trị.
Nguyễn Chí Thiện là nhân chứng không thể loại trừ về một guồng máy kiểm soát con người từ trí óc đến hành động, từ tay chân đến tư tưởng.
Hoa địa ngục vừa là một hành trình thơ, vừa là một hành trình sống.
Hoa địa ngục là tác phẩm sớm nhất mô tả đầy đủ hai khía cạnh: chế độ tù ngục và cuộc sống con người trong chế độ toàn trị, ngay từ năm 1960, ở miền Bắc.
Văn bản xuất hiện năm 1979, cũng sớm nhất, khi những hồi ký của tù nhân cải tạo miền Nam chưa ra đời và hai mươi năm sau, ở miền Bắc mới có tiểu thuyết Truyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn.
Hoa địa ngục là câu chuyện một thanh niên bước vào đời tràn đầy hy vọng: 1954, miền Bắc bắt đầu cuộc sống hoà bình, độc lập, sau chín năm chiến tranh. Ba năm sau, 1957, chàng sáng tác bài Mắt em, thơ tình, có lẽ là bài thơ đầu tiên được lưu lại, mang nét lãng mạn của cái “thủa ban đầu lưu luyến ấy“, lần đầu rung động trước đôi mắt thuyền3 (3). Mắt em thời chưa đi tù, là một hợp âm ca dao, Lưu Trọng Lư và TTKH trong tình yêu thứ nhất:
Mắt em mềm mại con đò
Anh nhìn chẳng thấy hẹn hò một câu
Mắt em trong mát giòng sâu
Anh nhìn chẳng thấy nhịp cầu bắc qua
Mắt em là một vườn hoa
Vắng anh, thắm nở chói loà sắc hương
Vườn hoa ấy, cảnh thiên đường
Anh nhìn chỉ thấy cửa thường đóng nghiêm (Mắt em, 1957)
Người thanh niên 18 tuổi của một Hà Thành đã tiếp thu cách mạng được ba năm, nhưng chưa “lột xác”: vẫn còn mộng đôi mắt thuyền Lưu Trong Lư, vẫn còn mơ giai nhân đài các “đóng nghiêm” trong khung cửa Thâm Tâm TTKH.
Một năm sau, 1958, thơ đã buồn hơn, đã nhuốm màu hoang sơ Hà Nội sau bốn năm “giải phóng”. Thơ luyến nhớ dĩ vãng. Hà Nội bây giờ nằm im, lo sợ, chờ đợi bản án Nhân Văn:

Quanh hồ liễu rủ
Giữa hồ tháp đứng âm u
Đền Ngọc Sơn không hương khói lạnh lùng
Cầu Thê Húc nằm nghe lá rụng…
Đâu những bác thầy tầu, thầy cúng
Những bà già đi lễ năm xưa?
Cảnh hồ gươm mưa nắng bốn mùa
Lẩn quất bóng rùa, lặng lẽ… (Quanh hồ liễu rủ, 1958)

Lại một năm nữa trôi qua, 1959, lịch sử miền Bắc xuyên dần vào thơ. Cái sợ của người dân thấm dần vào không gian, cỏ lá. Không khí âm u vượt biên Hà Nội, trải rộng, trải dài, lan tới núi rừng, tới thượng du, tới những bản xa nơi địa đầu hoang dã:

Vài cánh dơi chập chờn quanh cổ miếu
Rừng ngả dần mầu hiểm bí, âm u
Gió đìu hiu thoang thoảng lạnh hơi chiều
Sương ẩm ướt bắt đầu rơi phủ
Trong lặng vắng vút ngân dài tiếng hú
Vài cánh chim lạc lõng vội bay về
Lời tối tăm vang dậy bốn bề
Tiếng ếch nhái côn trùng trong cỏ nước
Người lữ khách giật mình chân rảo bước
Bản mường xa có kịp tới qua đêm? (Vài cánh dơi, 1959)

Nhưng 1959 cũng là năm người thanh niên hai mươi tuổi ngước mắt nhìn xã hội, nhìn con người và cuộc sống. Niềm vui đánh đuổi được thực dân Pháp đã qua lâu rồi, chỉ còn lại mầu đỏ búa liềm, liệm dần cuộc đời thực tại trong bốn bức tường độc tài của một người, một đảng.
Nguyễn Chí Thiện bắt đầu vẽ chân dung. Bức tranh đầu, ông vẽ một người mù, một xẩm tân thời sống trong chế độ mới; đồng thời cũng là ý thức của chính mình, lần đầu tiên tỉnh dậy, nhìn thấy sự thực nằm sau những bức bình phong giả, bài trí ánh sáng, ấm no tân tạo:

Tôi thường đi qua phố
Có anh chàng mù, mắt như hai cái lỗ
Kính chẳng đeo, mồm thời xệch méo
Ngậm vào tiêu, cổ nổi gân lên
Dốc hơi tàn thổi đứt đoạn như rên
Mấy bài hát lăng nhăng ca ngợi Đảng
Đã mang lại ấm no và ánh sáng!
Một buổi sớm anh như choáng váng
Gục xuống đường, tiêu rớt sang bên
Tôi vội vàng chạy lại đỡ anh lên
Anh chỉ khẽ rên: Trời, đói quá! (Tôi thường đi qua, 1959)

Năm 1959 đối với Nguyễn Chí Thiện đánh dấu ngõ quặt của nhận thức. Ngày Thiện đỡ người mù dậy, cũng là ngày anh đỡ chính anh, mang tâm thức anh từ vùng tối ra vùng sáng. Nhưng đó cũng là ngày đại hoạ cho anh: từ nay, anh sẽ thay người mù bước vào bóng tối của lao tù cho đến hết tuổi trẻ.
Năm 1960, lại một bước nữa dấn thân vào định mệnh: Nguyễn Chí Thiện nhận dạy thay một người bạn ốm vài giờ lịch sử cho lớp học bổ túc văn hóa ở Hải Phòng. Bài giảng về đại chiến thứ hai, thấy sách giáo khoa viết Nhật đầu hàng là do Hồng Quân Liên Xô đánh bại quân Nhật ở Mãn Châu, Thiện bèn đính chính: Nhật đầu hàng vì Mỹ bỏ hai quả bom nguyên tử. Chuyện vu vơ, chẳng dính líu gì đến chính trị Việt Nam, thế mà anh bị đưa ra toà, lãnh án 2 năm tù vì tội “phản tuyên truyền”. Người con trai 20 tuổi, bị giam vì trót dậy học trò sự thực, chưa tiên đoán được những gì sẽ đến trong tương lai:

Nửa đời thân thế long đong
Nhà thương tù ngục xoay vòng tuổi xuân
Một năm thổ huyết hai lần
Mười năm cấm cố tiêu dần thịt da
Rừng hoang biên giới mưa sa
Hoẵng kêu nấc gịong xa xa trên ngàn
Chăn đơn khôn ấm nỗi hàn
Co lên đất tấm thân tàn bỏ đi… (Đêm nằm nghe, 1974)

1961, nẩy sinh một Nguyễn Chí Thiện khác, một nhà thơ lột xác, đã thôi lãng mạn, giã từ yêu đương, miễn tiếc nhớ, để bước vào thực chất lao tù, bước vào định mệnh:

Có những chiều mưa buồn lạnh cóng
Giữa bùn trơn tê tím xương da
Chống cuốc nhìn rừng núi bao la
Trong bụi nước mờ mờ lẩn bóng…
Có những chiều mặt trời như lửa bỏng
Giọt mồ hôi mờ xót con ngươi
Đặt gánh phân nhìn bốn phía đất trời
Rừng núi đứng im lìm trong nắng loá
Có những chiều thịt gân rời rã
… (Có những chiều, 1961)

Nguyễn Chí Thiện, nhà thơ nhân chứng
Từ đây, Nguyễn Chí Thiện trở thành nhà thơ nhân chứng, trở thành Đỗ Phủ của địa ngục trần gian, của thiên đường cộng sản. Tia mắt ánh xanh lạ lùng ở một người châu Á ấy đã quắc lên.
Ở tuổi 23, ông viết bài thơ đầu tiên mô tả thực chất đời tù. Ở người thanh niên lãng mạn mơ mộng hiền lành mấy năm về trước, nay đã có sự đổi thay toàn diện từ lực tâm đến lực bút, những chữ dữ dội, khốc liệt, vung lên:

Chúng tôi sống giữa lòng thung lũng
Bốn bên là rừng núi bọc vây quanh
Ở rúc chui trong mấy dẫy nhà tranh
Đầy rệp muỗi, đầy mồ hôi, bóng tối
Bệnh tật cho nhau, đời ôi hết lối
Tuyệt vọng ngấm dần, hồn xác tả tơi
Bảo đây là kiếp sống của con người
Của trâu, chó? So làm sao, quá khó!
Làm kiệt lực, nếu không giây trói đó
Ốm ngồi rên, báng súng thúc vào lưng
Bướng lại ư? Hãy cứ coi chừng
Xà lim tối, chân cùm dập nát!
Lũ chúng tôi triền miên đói khát
Đánh liều xơi tất cả củ cây rừng
Bữa cơm xong mà cứ tưởng chừng
Chưa có một thứ gì trong ruột cả!
Đêm nằm mơ, mơ toàn mơ thịt cá
Ngày lắm người vơ cả vỏ khoai lang
Có ai ngờ thăm thẳm chốn rừng hoang
Đảng cất giấu dân lành hàng chục vạn
Và sát hại bằng muôn ngàn thủ đoạn
Vừa bạo tàn vừa khốn nạn, gian ngoa
Biết bao người chết thảm chết oan
Chết kiết lỵ, chết thương hàn, sốt rét
Chết vì nuốt cả những loài bọ rết
Vì thuốc men, trò bịp khôi hài
Chế độ tù bóc lột một không hai
Biết bao cảnh, bao tình quằn quại
Có những kẻ thân hình thảm hại
Phổi ho lao thổ huyết vẫn đi làm
Lời kêu xin phân giải chỉ thêm nhàm
Phòng y tế dữ hơn phòng mật thám!
Những con bệnh bủng vàng hay nhợt xám
Bước khật khừ như bóng quỷ hồn ma
Có những buổi mưa rơi tầm tã
Vác áo quần ra đứng cả ngoài sân
Lũ công an lục soát toàn thân
Thu đốt cả vật tối cần- miếng dẻ!
Cụ Mác ơi, cụ là đồ chó đẻ
Thiên đường cụ hứa như thế kia a?
… (Chúng tôi sống, 1962)

Chúng tôi sống, 1962, là một bản cáo trạng, một bản hùng văn, một bức tranh cô đọng và chi tiết về cuộc sống hàng ngày của những tù nhân chính trị trên đất Bắc, chưa bao giờ được viết, chưa bao giờ được công bố.
Chúng tôi sống bức tranh hiện thực rỏ máu. Sự thật này, năm 1962 không ai tin được, bởi mọi người còn chưa hết say chiến thắng Điện Biên, còn đang hướng về một thiên đường tuyệt đối sau khi dẹp xong bọn “phản động” Nhân Văn Giai Phẩm.
Phải 40 năm sau, Bùi Ngọc Tấn mới viết những sự thật này thành tiểu thuyết.
Nguyễn Chí Thiện đi sớm hơn thế hệ ông bốn mươi năm, vì vậy mà ông đã không được đánh giá đúng mức, bởi trong số những người ca tụng Bùi Ngọc Tấn sau này, rất nhiều đã từng đào thải Nguyễn Chí Thiện.
Chúng tôi sống nói lên sức sống mãnh liệt của người thanh niên tên Chí Thiện, hiểu tại sao có sự trở mình của một ngòi bút bẩm sinh vốn nhu mì, nay đã lột xác trở thành đanh thép; giải thích tại sao một thanh niên ốm o ho lao, có thể sống còn và tồn tại sau 27 năm tù.
Trong số những chàng trai bị tù vì tư tưởng, Chí Thiện hiện rõ nét, bởi anh là một nhà thơ, dám nghĩ, dám ghi lại ngoại cảnh và tâm cảnh của mình. Anh bắt đầu đầu đặt câu hỏi, về trời, về đất, về nước, về thân phận. Nguyễn Chí Thiện suy nghĩ lao lung:

Trời u ám, cây hay là sương xám?
Mây đục mờ, hay vải liệm mầu tang?
Gió đìu hiu lạnh buốt can tràng
Hay hơi thở nơi dương tàn âm thịnh?
Lòng thung vắng mịt mù hoang lạnh
Hay mồ ma huyệt địa rấp xương khô?
Từng đoàn đi thiểu não toán tội đồ
Hay quỷ đói nơi trần gian địa ngục?
Những chàng trai mặt gầy đen nhẫn nhục
Mắt lạnh lùng, ngời sáng lửa âm u
Họ ngước trông non nước mịt mù
Và cúi xuống, nặng nề suy nghĩ… (Trời u ám, 1962)

Kể từ đêm trừ tịch 1961, Chí Thiện nhận thức được vai trò nhân chứng của mình. Kể từ nay, anh quyết tâm ghi lại trong đầu từng cảnh sắc, từng hình ảnh, từng chi tiết nhỏ nhoi:

Đêm rừng, rả rích mưa, phòng dột
Ôm gối ngồi run lạnh nhìn nhau
Chấm lửa mờ xanh một ngọn đèn dầu
Thùng nước giải, thùng phân, sàn rệp đốt
Đêm trừ tịch tù năm sáu mốt. (Đêm rừng rả rích, 1962)

Mỗi trạng huống, mỗi âm thanh, có thể trở thành một bài thơ khủng khiếp. Chưa nơi nào, chưa thơ nào mà kiếp người kinh hoàng đến thế:

Trời mưa tầm tã đêm qua
Sáng nay lạc rỡ còn pha trộn bùn
Sá gì bệnh sán, bệnh giun!
Dịp may hiếm có, tùn tùn nuốt nhai
Tôi nghe rào rạo bên tai
Một nhân lạc phải trộn hai nhân bùn (Trời mưa tầm tã, 1962)

Cái đói ở đây không còn nguyên chất sinh học nữa nữa, không còn trọn khối nữa, mà nó đã hoá thân, hóa chất, nhập vào mỗi âm thanh: tùn tùn nuốt nhai, rào rạo bên tai, một nhân lạc trộn hai nhân bùn. Nó đánh động lương thức người đọc như một thứ bom nổ chậm mà chắc.
Vẫn chuyện rỡ lạc, năm sau, cái đói mở ra một trận tuyến khác: nó dẫn đến sự trừng trị, nó là cái cớ để cái ác có cơ hội ra tay, như nhân với quả:

Toán tôi rỡ lạc ngoài đồng
Có ông quản giáo ngồi trông đàng hoàng
Thừa cơ quản giáo trông ngang
Một anh tranh thủ vội vàng nuốt nhai
Vài nhân lạc cả vỏ ngoài
Quả tang! Báng súng nện hoài không thôi!
Mồm anh toé máu, vều môi. (Toán tôi rỡ lạc, 1963)

Chưa có một thế giới nào dã man đến thế: vừa chết đói vừa bị đánh.
Nhưng sự kinh hoàng đến từ chỗ khác: Sự thản nhiên của người kể, nhẹ nhàng như thuật một chuyện vui hàng ngày. Những chữ thừa cơ, tranh thủ hàm ý khôi hài, càng làm tăng tốc ác, làm dầy cái bạo tàn, làm tê liệt hệ thần kinh người đọc.

Thơ Nguyễn Chí Thiện không gọt giũa mỗi chữ mỗi lời, cũng không cao siêu tư tưởng, mà chỉ là những lời lẽ bình thường, thậm chí tầm thường nữa, nhưng chúng làm ta giật mình bởi chất dã man, tàn bạo ẩn trong những con chữ nhu mì hiền hậu, lừa ta vào ổ phục kích bất ngờ.

Cũng năm 1963 này, Nguyễn Chí Thiện sáng tạo những câu thơ lãng mạn pha máu và nước mắt. Sự tuyệt vọng lên ngôi, người thanh niên 24 tuổi, sau ba năm tù tội, đã nghiền tan cái lãng mạng của thời mình trong những dòng thơ tuyệt vọng, những câu thơ tím bầm mình mẩy, những vần thơ run sợ thất thần trên đường lên máy chém:

Khi ta tới mặt trời đã nguội
Gió mùa thu trở gió may cào
Những mầm non khô cứng tế bào
Mau thay sắc mang mầu xanh rớt
Và mặt đất hoá thành mặt thớt
Và con người con cá thiu ươn
Khắp nơi nơi nhung nhúc loài lươn
Loài giun đất không quằn khi dẫm
Tình mộng đã vùi chôn một nấm
Hận thù trơ trọi sống mồ côi
Những vần thơ lãng mạn câm rồi
Còn rỏ xuống một dòng đỏ sẫm (Khi ta tới, 1963)

Những vần thơ lãng mạn câm rồi -chính là thơ bị trảm tấu, thơ bị tử hình- là đỉnh cao của tuyệt vọng. Sự tuyệt vọng trở thành độc dược, ngấm dần vào cơ thể thanh niên, hủy hoại hệ thần kinh, rút dần xương tuỷ:

Mầu thời gian đã chuyển về sắc xám
Vị thời gian đã ngả tới mùi thiu
Nửa trang đời dập, xoá, tẩy còn lưu
Và còn đó nửa trang dài lạnh trắng…
Tim trúng độc hóa ra bầu mật đắng
Hệ thần kinh một mớ chỉ xù lông
Nửa trang đời không một chữ nào trông
Thành nét chữ, nửa trang đời lạnh trắng…
Dông gió hết bơ phờ trong quạnh vắng
Cảnh hoang tàn cây đổ mái nhà xiêu
Nửa trang đời thâm tím với bầm biêu
Lòng dột nát, nửa trang đành bỏ trắng? (Mầu thời gian, 1963)

Đã xa rồi cái buổi “mầu thời gian xanh xanh” của Đoàn Phú Tứ. Mầu thời gian, ở Nguyễn Chí Thiện, nó sắc xám, nó đã ngả mùi thiu, nó là trái tim trúng đạn, nó là hệ thần kinh rối bét như mớ chỉ xù, nó là nửa trang đời bỏ trắng, nó là chưa sống mà đã chết… nó là mầu tuyệt vọng của thời gian. Bên cạnh sự tuyệt vọng của thời gian, là sự hấp hối của một người em tập kết:

Những manh áo vải
Tả tơi
Vật vã
Vào thịt da…
Em có lạnh lắm không?
Mưa gió mênh mông
Thung lũng sũng nước bùn
Bệnh xá mối đùn, ẩm mốc
Những khuôn mặt xanh vàng gầy rộc
Nhìn nhau, đờ đẫn không lời
Nhát nhát em ho
Từng miếng phổi tung rời
Bọt sùi, đỏ thắm!
Em chắc oán đời em nhiều lắm
Oán con tầu tập kết Ba Lan
Trên sóng năm nào
Đảo chao
Đưa em rời miền Nam chói nắng…
Sáng nay em không trống không kèn
Giã từ cuộc sống
Xác em rấp trên đồi cao gió lộng (Anh gặp em, 1965)

Toàn bộ thời gian, không gian, người, vật, đều sống trong mùi tử khí, đều là những chân dung xác chết, nối tiếp nhau trong vườn hoa địa ngục. Người đọc lạc vào cửa tử trong trận đồ bát quái không tìm được lối ra. Bên cạnh xác người em tập kết là xác chết một thân trâu:

Trông trâu mà khiếp cho trâu
Lở loang, tanh loét, sắc mầu nhở nham
Lệnh ban giám thị nhà giam
Mừng ngày quốc khánh cho làm thịt ăn
Tù nhân tính toán băn khoăn
Bốn mươi cân thịt, người ăn một nghìn! (Trông trâu mà, 1967)

Trong bữa tiệc mừng quốc khánh, mỗi người tù được hưởng 40g thịt trâu chết bệnh. Chưa có cao lương nào đạt vị khôi hài chua chát cay độc đến vậy. Nhưng chưa hết, bên cạnh xác trâu lở loang, tanh loét; bên cạnh một nghìn xác tù hom hem; bên cạnh bữa tiệc quốc khánh quái đản, lại là một chân dung người:

Bác nằm liền sát cầu tiêu
Mùi phân nước giải sớm chiều nồng hôi
Bác ơi, bác sắp chết rồi
Bác không còn sức để ngồi được lên
Bác nằm thoi thóp khẽ rên
Bát cơm ngô, bát rau dền đặt bên
Bác thèm một miếng đường phèn
Nhà giam Cộng sản bác quên bác tù
Trưa nay cái chết lù lù
Tới khiêng bác – Khối hận thù ngàn thu! (Ốm đau không thuốc, 1968)

Cuối cùng, sống chết giao lưu trong một cuộc gặp gỡ lạ lùng. Người hấp hối và thần chết trò chuyện với nhau trong không gian âm dương giao kết, buốt lạnh:

Nhìn thần chết hiện lên dần từng bước
Thân tù cao không có lực xô lùi
Anh chết oan, chết thảm, chết dập vùi
Hồn khổ não không thể nào siêu thoát
Đêm đêm hiện về đây lạnh toát
Bộ đồ đen, bụng phù trướng, bước đi
Anh ngước nhìn tôi, ra hiệu, chẳng nói gì
Mặt bủng xám, mắt ngời lên sáng quắc
Thế đủ rồi, tôi hiểu, hãy nên lui
Thể xác anh chuột khoét đã chôn vùi
Hồn anh hãy về vui nơi cực lạc
Lưu luyến chi đời tù lao đói rạc
Sống đọa đầy thoi thóp, sống ngựa trâu
Chết như anh, hết khổ có chi sầu
… (Nhìn thần chết, 1968)

Trong nhiều năm, Nguyễn Chí Thiện ngồi vẽ chân dung như thế, bức nọ để cạnh bức kia, thành cuộc triển lãm một quần hội nửa người, nửa thú, đang sống mà đã chết. Một thế giới người, vật, âm, dương, không phân chia giai cấp, không phân liệt đấu tranh. Một vùng ngoại biên, trên sông lú, người và vật cùng bị giam trong một không gian kín, chết sống giao thoa. Cái đói là bát cháo lú khiến người tù quên mình khi trước đã từng là một con người:

Suất cơm tôi một hôm đánh đổ
Tôi còn đương đau khổ nhìn theo
Thì nhanh như một đàn heo
Bốn, năm đầu bạc dẫm trèo lên nhau
Bốc ăn một lúc sạch làu
Miếng cơm, miếng đất, lầu bầu chửi nhau! (Suất cơm tôi, 1966)

Trên bờ sông nghĩa địa ấy, người thanh niên Chí Thiện tồn tại như một vong hồn:

Tôi đương sống, nhưng từ lâu đã chết
Chết trong tim, trong óc, chết tâm hồn
Cố đào lên bao thứ sớm vùi chôn
Song chúng đã xông mùi, tan rữa hết (Đoản thơ, 2)

Kẻ nhận định thơ mình đúng nhất cũng lại là tác giả. Mười năm sau khi vào tù lần thứ nhất, Nguyễn Chí Thiện “nhận định” thơ mình:

Thơ của tôi không phải là thơ
Mà là tiếng cuộc đời nức nở
Tiếng của nhà giam ngòm đen khép mở
Tiếng khò khè hai lá phổi hang sơ
Tiếng đất vùi đổ xuống lấp niềm mơ
Tiếng khai quật cuốc đào lên nỗi nhớ
Tiếng răng lạnh đập vào nhau khổ sở
Tiếng dạ dầy đói lả bóp bâng quơ
Tiếng tim buồn thoi thóp đập bơ vơ
Tiếng bất lực trước muôn ngàn xụp lở
Toàn tiếng của cuộc đời sống dở
Và chết thời cũng dở, phải đâu thơ! (Thơ của tôi, 1970)

Năm năm sau, 1975, ông làm bài thơ thứ nhì định nghiã thơ mình, khốc liệt hơn:
Thơ của tôi không có gì là đẹp
Như cướp vồ, cùm kẹp, máu ho lao
Thơ của tôi không có gì cao
Như chết chóc, mồ hôi, báng súng
Thơ của tôi là những gì kinh khủng
Như Đảng, Đoàn, như lãnh tụ, như trung ương
Thơ của tôi kém phần tưởng tượng
Nó thực như tù, như đói, như đau thương
Thơ của tôi chỉ để đám dân thường
Nhìn thấu suốt tim đen phường quỷ đỏ (Thơ của tôi, 1975)

Không còn gì để bàn trước những lời thơ như thế. Quá khích ư? Đúng là quá khích. Nhưng có gì quá khích hơn bị tù vì tội nói thực? Có gì quá khích hơn sự đọa đầy đến chết vì tư tưởng? Không có gì để khen chê trước những lời thơ như thế. Không có gì liên quan tới nghệ thuật trước những lời thơ như thế. Không có gì hàm súc, không có gì ngụ ẩn trong những lời thơ như thế. Phê bình đành chịu. Phê bình đành gác bút. Có lần J.P. Sartre nói: Trước một em bé chết đói, cuốn Buồn nôn của tôi không có nghiã lý gì. Chúng ta bảo: trước những dòng thơ tù như thế, mọi khen chê, mọi nghệ thuật, đều trở nên vô nghiã. Phê bình đành á khẩu.

Trước mắt tôi, mặt trời hấp hối
Sau lưng tôi, bóng tối mịt mùng
Bên phải tôi, tù ngục chập chùng
Còn bên trái, súng nhằm tim chắn lối! (Đoản thơ, 152)

Nguyễn Chí Thiện, nhà thơ trào phúng
Nhưng thơ Nguyễn Chí Thiện không chỉ có ngục tù, không chỉ có đớn đau và xác chết, ông còn có những bài thơ trào phúng vẽ chân dung lãnh tụ rất có duyên:
– Về bác Mao:
Bác Mao cân nặng tạ hai
Thịt ùn lên mặt, mặt hai ba cằm
Người dân Trung Quốc thì thầm:
“Nó là Đổng Trác nhưng dâm hơn nhiều!” (Đoản thơ, 126)

– Về bác Hồ:
Bác Hồ rồi lại bác Tôn!
Cả hai đều thích ôm hôn nhi đồng
Nước da hai bác mầu hồng
Nước da các cháu nhi đồng mầu xanh… (Bác Hồ rồi lại)

– Lại về bác Hồ:
Bác Hồ tới thăm thiếu nhi
Bác cười bác hỏi chi li ngọn ngành
Việc ăn ở, việc học hành
Lao động bác dặn chấp hành tốt, nhanh
Kẹo bánh bác hứa để dành
Chủ nghiã xã hội hoàn thành sẽ cho!
Thiếu nhi khăn đỏ cổ cò
Vỗ tay suông chúc bác Hồ sống lâu… (Bác Hồ tới thăm, 1967)

– Về học thuyết Mác:
Học thuyết Mác, này đây sọt rác
Xét lại làm gì, tốt nhất vất nó đi
Sử sách sau này đỡ mất công ghi
Thêm quá nhiều trang xám xì tội ác (Đoản thơ, 169)

– Về thiên đường Mác:
Thiên đường cụ Mác dân mơ
Tỉnh ra tài sản bị vơ nhẵn rồi
Chỉ còn lại chút mồ hôi
Đổ ra vì sợ, vì nuôi Đảng rồ! (Đoản thơ, 180)

Vẽ chân dung các đại lãnh tụ như thế không phải dễ. Đó là lối thơ dân gian, lối thơ bút tre của những cụ đồ hóm hỉnh. Tính chất hóm này những ai đã từng nghe Nguyễn Chí Thiện nói chuyện thường bắt gặp: trong cái bi thảm tột đỉnh, tâm hồn ông bao giờ cũng hướng về một lối thoát, dù rất bé, về phiá mặt trời: ông là người của niềm vui, của lạc quan. Ông thích cười nhưng cuộc đời đã làm môi ông chụm lại che kín hàm răng. Nhưng mắt ông thường lộ một ánh lửa trêu ngươi, nhạo báng, thách thức, chơi khăm, những thế quyền, những bạo lực.

Bị tuyệt vọng đè nát cuộc đời, nhưng ông không chết vì tuyệt vọng.
Bên cạnh tiếng cười, thơ ông là một cõi mênh mông lệ, cõi nước mắt trong vắt như thủy tinh:
Trong muôn dòng trái đất tuôn đi
Dòng trong nhất là dòng nước mắt (Lệ, 1971)

Nguyễn Chí Thiện, nhà thơ thời thế
Trong tù, không gian chật lại, bốn mùa co lại, thời gian không gian cùng chui chung một kiếp với tù nhân. Và mùa xuân, mùa hy vọng cũng chịu cực hình như người tù phạm:

Bốn bức rào nứa
Cứa vào mùa xuân
Một cách bất nhân
Mùa xuân máu ứa! (Đoản thơ, 48)

Không gian và thời tiết trong tù cũng là không gian và thời tiết của đất nước. Nhưng người tù không được biết gì về thời thế, về chiến tranh, về tình cảnh dân tộc. Người tù cũng giống như người nhà nông xưa, phải xem trời để biết nắng, xem mây đoán mưa. Người tù cảm nhận thời thế gián tiếp qua thiên nhiên, vũ trụ. Khi đất nước bị suy vong, khi con người bị trấn áp, cơn thịnh nộ của đất trời giáng xuống núi rừng như một lời cảnh giác:

Đêm bão giật, lửa loè muôn tiếng sét
Nổ đùng đùng như đánh phá sơn lâm
Nước từ trời cao đổ xuống ầm ầm
Cả rừng núi lồng lên gầm quát thét (Đoản thơ, 95)

Trước cơn thịnh nộ của đất trời, người tù Nguyễn Chí Thiện đã hiểu tất cả. Ông phẫn nộ và hờn oán chính mình, người mình, về chuyện nước non tan tác:
Giận thân rồi lại giận đời
Giận thời chuyên chính, giận người hèn ngu
Giận trời, giận đất âm u
Giận sông, giận núi quân thù dọc ngang (Đoản thơ, 140)

Nguyễn Chí Thiện sống trong tù trong suốt thời gian chiến tranh, nhưng chắc ông đã hy vọng miền Nam sẽ thắng. Những câu thơ sau đây đánh dấu sự tuyệt vọng của nhà thơ khi miền Nam thua trận, cả nước quy về một mối cộng sản:

Miền Nam ơi, từ buổi tiêu tan
Ta sống trọn vạn ngàn cơn thác loạn (Vì ấu trĩ, 1975)

Và trong con người ốm o, tù tội ấy, luôn luôn có sẵn ý định lật đổ định mệnh của mình và của dân tộc. Ý chí sắt đá ấy toát thành những lời thơ vũ bão, đặc dị, khác thường:

Trong bóng đêm đè nghẹt
Phục sẵn một mặt trời
Trong đau khổ không lời
Phục sẵn toàn sấm sét
Trong lớp người đói rét
Phục sẵn những đoàn quân
Khi vận nước xoay vần
Tất cả thành nguyên tử (Trong bóng đêm, 1976)

Sau này, khi chế độ toàn trị chỉ còn là quá khứ, những Nguyễn Hữu Đang, Phùng Cung, Hoàng Cầm, Kiều Duy Vĩnh, Nguyễn Chí Thiện, Bùi Ngọc Tấn… sẽ trở thành chứng nhân của lịch sử; một lịch sử sống động, trực tiếp, thành thực về vùng đồng lầy, viết bằng những từ trần trụi, không khoan nhượng, mô tả chính sách triệt hạ nhân quyền ở Việt Nam, trong hậu bán thế kỷ XX:

Đạo lý tối cao ở xứ đồng lầy
Là lừa thầy, phản bạn
Và tuyệt đối trung thành vô hạn
Với Đảng, với Đoàn, với lãnh tụ thiêng liêng
Hạt thóc, hạt ngô phút hoá xích xiềng
Hoạ, phúc toàn quyền của đảng (Đồng lầy, 1972)

Không ai kêu nổi một lời
Mồm dân Đảng khoá đã mười mấy năm (Gửi Bertrand Russell, 1968)

Lời thơ tuy như nói, nhưng có tác dụng bằng trăm lời nói thường, bởi nó có cấu trúc nội tâm là sự thật.
Bài Đồng lầy là một bản trường ca về thời đại Nguyễn Chí Thiện đã sống, một cõi đồng lầy với những kiếp người như những con giun, với bọn ếch nhái lên làm chủ và lũ sậy lau co đầu cúi rạp. Cõi mộng chỉ đến trong giây lát, rồi nhà thơ lại phải quay về với thực tại, của đêm đen, của dân tộc đẫm trong ám khí đồng lầy:

Trời cao biển rộng có cũng như không!
Một tiếng quạ đêm ảo não rỏ xuống đồng
Tôi tỉnh hẳn, trở về cơn ác mộng
Muỗi nhơn nhơn từng đàn vang động
Những con cưng của ngừng đọng tối tăm
Chúng trưởng sinh trong đêm tối nhiều năm
Nên chúng tưởng màn đen là ánh sáng!
Ếch nhái vẫn đồng thanh đểu cáng
Chửi bới mặt trời, ca ngợi đêm đen
Lũ sậy lau còm cõi đứng chen
Hơi có gió là cúi đầu rạp hết
Bát ngát xung quanh một mầu khô chết (Đồng lầy)

Cả đoạn thơ trên bị một tiếng quạ đêm rỏ xuống đồng làm tan nát. Đúng ra, chỉ một chữ rỏ thần tình, chua xót, một chữ rỏ xác định phong cách thơ.
Đồng lầy làm năm 1972, tóm tắt cuộc đời Nguyễn Chí Thiện, từ tuổi hai mươi, đầy tin tưởng vào tương lai, vào ánh sáng cách mạng mùa thu:
“Mơ ước
Đợi chờ
Vĩ đại…
Nhưng rồi một sớm đầu thu mùa thu trở lại
Tuổi hai mươi mắt nhìn đời trẻ dại
Ngỡ cờ sao rực rỡ,
Tô thắm mầu xứ sở yêu thương
Có ngờ đâu giáo giở đã lên đường
Hung bạo phá bờ kim cổ
Tiếng mối giường rung đổ chuyển non sông
Mặt trời sự sống
Thổ ra từng vũng máu hồng (Đồng lầy)

Lời thơ cổ điển theo lối kể các truyện nôm xưa: Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh, lại mang sắc hiện đại của Một mùa thu năm qua cách mạng tiến ra đất Việt. Nhưng cơn mộng cách mạng của Nguyễn Chí Thiện -chậm hơn các bậc đàn anh, vì ông ra đời sau, và cũng chấm dứt sớm hơn nhiều người khác, bởi ông đã nhìn thấy trước sự thật: Có ngờ đâu giáo giở đã lên đường- kéo theo một chuỗi dài rùng rợn:
Hung bạo phá bờ kim cổ
Tiếng mối giường rung đổ chuyển non sông
Mặt trời sự sống
Thổ ra từng vũng máu hồng

Lời thơ mạnh mẽ. Chí khí vẫy vùng.
Thơ mang bạo lực như cách mạng, nhưng một bạo lực phản cách mạng.
Phùng Cung và Nguyễn Chí Thiện là hai nhà thơ miền Bắc chối bỏ rất sớm Cách mạng mùa thu. Ông đã nhận ra trách nhiệm lớn nhất của cuộc cách mạng này là du nhập chính sách đấu tranh giai cấp (của Mác, qua lăng kính Mao, vào đất Việt) là một dòng lũ, bùn, cuốn trôi tổ quốc:
Một mùa thu nước lũ
Trở thành bùn nước mênh mông
Lớp lớp sóng hồng man dại
Chìm trôi quá khứ tương lai
Máu, lệ, mồ hôi, rớt rãi
Đi về ai nhận ra ai!
Khiếp sợ, sững sờ, tê dại!
Lịch sử quay tít vòng ngược lại
Thời hùm beo rắn rết công khai
Ngàn vạn đấu trường mọc dậy giữa ban mai (Đồng lầy)

Chỉ có Phùng Cung và Nguyễn Chí Thiện dám mô tả cách mạng mùa thu như thế. Nguyễn Chí Thiện bị bắt năm 1960.Phùng Cung, 1961. Nguyễn kể năm 1970gặp Phùng trong trại tù Phong Quang, Yên Bái. Tình cờ chăng? Phùng và Nguyễn cùng tố cáo chiến tranh Nam Bắc?

Súng ống từng đoàn run run, nhớn nhác
Đảng lùa đi, tan tác, thương vong
Mái ngói, mái gianh, lệ thảm ròng ròng
Nhỏ xuống bốc hơi trong lòng vạc bỏng
Đảng dữ thét gào, hóc xương ngang họng
Giọng thều thào, gượng gạo hung hăng
Lưới thép nền chuyên chính tung quăng
Khốc liệt, bậy xằng, ức oan, cay đắng
Dân đen tay trắng cam đành
Từ núi rừng hoang vu tới phố xá thị thành
Từ hải đảo xa xôi tới ruộng đồng bát ngát
Mầu áo vàng cảnh sát
Tràn lan, nhợt nhạt cả mầu xanh!
Cuộc sống đồng lầy rộp rát, nhoét tanh
Bom đạn chiến tranh còn giật giành chút xương da thảm hại
Cái cảnh mười đi, hai ba trở lại. (Đồng lầy, 1972)

Đồng lầy là một bài thơ thời thế, bài thơ dấn thân, bài thơ tranh đấu, luận tội cộng sản và kết án chiến tranh. Đồng lầy cũng là một bài diễn ca trong phong cách Hà Thành chính khí ca, Đại Nam quốc sử diễn ca... Sau này, khi mọi chuyện lắng xuống, người ta mới có thể đánh giá bản trường ca này một cách công bình hơn. Nhưng chắc chắn nó sẽ là một bài thơ cần phải đọc để tìm hiểu thời đại này.
Bài Con tầu rêu, là một thành công khác, một giá trị nghệ thuật và tư tưởng.
Dùng Con tầu rêu Nguyễn Chí Thiện muốn mượn hình ảnh con tầu say (bateau ivre) của Rimbaud, để chỉ những con tầu tự do, hay sự tự do của chính mình. Thơ buồn bã như một lời tâm sự:
Con tầu say như ních chật không gian
Giữa mùa điên không biết lực điêu tàn
Xô vỡ vụn nơi ngời băng tuyết loá
Trong trắng xoá những ngày mưa tầm tã
Con tầu đau vật vã trước bờ xanh
Phiá mờ xa thôn xóm đứng yên lành
Thân tầu đã tan tành trên mũi đá.
Cay đắng quá những bến nghèo tàn tạ
Đón trông tầu lui tới, đứng buồn thiu
Khi tầu tôi men đến cũng dập dìu
Gây sóng gió đắm dìm cho nhục nhã
Ôi tiếp tới nước triều dâng vật vã
Con tầu run chưa tiến đã chờn lui
Đành một mai nơi đáy nước rêu vùi
Làm chỗ ở cho tôm, sò, ốc, cá
Tôi đã biết những đêm dài dòng dã
Con tầu câm trôi giữa đám trăng sao
Biết dừng đâu, không bóng hải cảng nào
Ra tín hiệu đón con tầu buồn bã
Tôi đã biết những bình minh đói lả
Biến sang mầu loang tím của chiều hoang
Con tầu đi, sức kiệt, lệ dòng hàng
Thương xót những mảnh tầu trôi vạn ngả… (Con tầu rêu, 1965)

Niềm tuyệt vọng của Nguyễn Chí Thiện về tự do đã dấy lên rất sớm, từ thời thanh niên, tù tội, Từ năm 1965.
Con tầu tự do trong tim người tù trẻ phóng đi tìm một bến bờ, tìm sự đồng thanh tương ứng. Nhưng con tầu của chàng đơn độc một mình. Nó đã mắc nạn. Không ai cứu giúp. Không ai cho cập bến, đến cả các bến nghèo, họ cũng đuổi tầu đi. Họ cũng dìm cho tầu chìm, dường như trên mảnh đất này, tự do là yếu tố đã bị yểm, bị mọi người bỏ qua, bị sa thải như một vật phù phiếm, người ta không cần dùng đến.
Tất cả những đắng cay của con tầu rêu, chìm dưới đáy biển, vận vào thơ, làm nên linh hồn tập Hoa địa ngục.
Không ai hiểu hơn tác giả, không ai có thể định nghiã đúng thơ ông bằng vài đoản thơ sau đây mà chúng tôi chép lại như lời kết của chính tác giả về đời mình, về tự do và về thân phận dân tộc:
Hoa địa ngục tưới bằng xương máu thịt
Trộn mồ hôi chó ngựa, lệ ly tan
Hoa trưởng sinh trong tù, bệnh, cơ hàn
Hương ẩm mốc, mầu nhở nham, xám xịt.

Toàn bộ thơ tôi nặng nề cay cực
Không một sắc mầu mang khí lực xanh tươi
Vần điệu nghe như quỷ khóc ma cười
Do sáng tạo tận cùng sâu đáy vực (Đoản thơ, 112, 113)

Nguyễn Chí Thiện đã chết. Một cái chết đột ngột, không ai ngờ, trừ “tác giả”. Một cái chết nhanh, trần trụi, phanh phui sự thực như thơ ông: Cái chết đứng của Từ Hải trước trận tiền, bằng những cơn ho xé phổi, bằng lục phủ ngũ tạng tan tành như trái phá, trong một ngoại hình gần như vô bệnh.
Cái chết làm câm đi những lời ngụy biện trong các chiến dịch “Nguyễn Chí Thiện thật giả, giả thật” nối tiếp nhau bôi nhọ ông trong vòng nhiều năm, dường muốn chôn ông lần nữa, bắn ông bằng thứ ám khí tàn ác không kém gì 27 năm tù cộng sản, của những kẻ sống dưới xã hội tự do, những kẻ tạm gọi là “đồng hội, đồng thuyền”.
Khi Hồ Thích bị các đồng chí trong Quốc Dân Đảng Trung Hoa đánh, Phan Khôi viết: “Thà chịu cái độc thủ của kẻ cường quyền, của bọn tiểu nhân; không thà chịu cái chó má của bạn đồng chí, của người quân tử”.
Đấy là Phan Khôi nói về cái chó má của người quân tử, còn trường hợp Nguyễn Chí Thiện, lại là cái chó má của bọn tiểu nhân, phỏng có đáng nhắc đến chăng?
Sự lựa chọn, luôn luôn sự lựa chọn làm nên con người. Trong muôn vàn lời tiếng ném ra, con người có khả năng lựa chọn tiếng nào hữu tình, hữu lý; tiếng nào phản, ngụy, trắc, gian.
Trong muôn ngàn tiếng muốn tìm ra
Tiếng nào thiết tha
Tiếng nào trung thực
Hãy lắng nghe tiếng vọng từ đáy vực (Đoản thơ, 114)

Chúc thư Nguyễn Chí Thiện để lại là chúc thư ngôn ngữ và tư tưởng: Mặc kệ ngục tù, mặc kệ xác thân rữa nát, tư tưởng và ngôn ngữ vẫn sống, sống lâu, sống dài, sống mãi:
Song ngôn ngữ ngày đêm vẫn sống
Âm thầm đưa tư tưởng sang sông
Qua muôn trùng hệ thống xiềng gông
Đang ra sức dựng thay cầu cống
Thoát khỏi đầu là tư tưởng sống (Từ tư tưởng, 1971)

Thụy Khuê
Paris tháng 6-8/2013
 
Chú thích:
1. Do Ủy Ban Tranh Đấu Cho Tù Nhân Chính Trị Tại Việt Nam, nhóm Nguyễn Hữu Hiệu, Viên Linh in tại Washington DC, 1980.
2. Do Phong trào thanh niên hành động, in ronéo tại Pháp, không đề năm.
3. Mắt thuyền: chữ của Lưu Trọng Lư.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: